Tìm hiểu về các hình thức đầu tư PPP – Quan hệ đối tác công tư
PPP là viết tắt của cụm từ tiếng Anh Public-Private Partnership – tạm hiểu là Quan hệ đối tác công tư. Đây là các mối quan hệ giữa các tổ chức nhà nước và tổ chức tư nhân liên quan đến lĩnh vực cơ sở hạ tầng và các lĩnh vực dịch vụ khác.
Đối tác nhà nước trong quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân là các tổ chức chính phủ, bao gồm các bộ ngành, các chính quyền địa phương hoặc các doanh nghiệp nhà nước. Đối tác tư nhân có thể là đối tác trong nước hoặc đối tác nước ngoài, và có thể là các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư có chuyên môn về tài chính hoặc kỹ thuật liên quan đến dự án.
Các mô hình của PPP.
Dựa trên các loại hợp đồng và chuyển giao thì có nhiều mô hình PPP Các thuật ngữ sau đây thường được sử dụng để mô tả các thỏa thuận quan hệ đối tác tiêu biểu (ở Việt Nam chúng ta thì thường chủ yếu dùng vài mô hình trong PPP mà thôi)
Buy-Build-Operate(BBO): Mua-Xây dựng-Kinh doanh
Build-Own-Operate(BOO): Xâydựng-sở hữu-Kinh doanh
Build-Own-Operate-Transfer(BOOT):Xây dựng-Sở hữu-Kinh doanh-Chuyển giao.
Build-Operate-Transfer(BOT): Xây dựng-Kinh doanh-Chuyển giao
Build-Lease-Operate-Transfer(BLOT): Xâydựng-cho thuê- Kinh doanh -Chuyển giao.
Design-Build-Finance-Operate(DBFO):Thiết kế-Xây dựng-Tài chính-Kinh doanh.
FinanceOnly: Tài chính đơn thuần
Operation&Maintenance Contract (O & M): Hợp đồng kinh doanh và bảo dưỡng
Design-Build(DB):Thiết kế-Xây dựng
OperationLicense:Giấy phép hoạt động
xaydung360.vn HD QLy.jpg (141.96 KB, Lượt tải về: 422)
31/3/2011 08:26 Tải lên
xaydung360.vn. HD cho thue.jpg (161.93 KB, Lượt tải về: 374)
31/3/2011 08:26 Tải lên
xaydung360.vn nhuong quyen.jpg (175.08 KB, Lượt tải về: 373)
31/3/2011 10:11 Tải lên
xaydung360.vn botBOT.jpg (170.05 KB, Lượt tải về: 400)
31/3/2011 10:11 Tải lên
xaydung360.vn lien doanh.jpg (150.06 KB, Lượt tải về: 359)
31/3/2011 10:11 Tải lên
LỢI ÍCH CÁC BÊN PPP.JPG (105.97 KB, Lượt tải về: 365)
25/3/2011 17:42 Tải lên
DAC DIEM CHINH PPP.JPG (218.33 KB, Lượt tải về: 363)
31/3/2011 07:36 Tải lên
quy trinh PPP.JPG (407.71 KB, Lượt tải về: 390)
29/3/2011 18:04 Tải lên
muc do rui ro cua PPP.JPG (193.37 KB, Lượt tải về: 357)
30/3/2011 08:59 Tải lên
XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CUNG CẤP NƯỚC SẠCH ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG CÔNG TY CẤP NƯỚC SÀI GÒN:
MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ
1. Thành phố Hồ Chí Minh là mộttrung tâm kinh tế, văn hóa, du lịch lớn của cả
nước, một đầu tàu phát triển toàndiện của phía Nam,là đầu mối giao lưu và cửa ngõ
hướng ra thế giới. Hơn hai mươi nămqua, vận hành trong chính sách đổi mới, thành phố
đã có những bước phát triển nhanhchóng. Do đó, việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng,
trong đó có hệ thống cấp nước là mộtnhu cầu quan trọng và bức bách.
Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn đangquản lý một hệ thống cấp nước lớn nhất và
lâu đời nhất của cả nước, với côngsuất cấp nước hiện nay là 1.350.000m3/ngày,mạng
lưới đường ống cấp nước từ Ø100mm đến2.400mm có chiều dài khoảng 3.800km (chưa
kể khoảng 3.800km ống nhánh vớikhoảng 760.000 đấu nối khách hàng). Dự kiến đến
năm 2025, theo định hướng phát triểncấp nước bền vững, đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng
nước sạch, cấp nước ổn định, bảo đảmchất lượng và dịch vụ tốt, với công suất cấp nước
sẽ đạt 3,2 triệu m3/ngày, pháttriển thêm 2.775km mạng lưới đường ống, cải tạo, thay thế
993km, phấn đấu giảm tỉ lệ thấtthoát – thất thu còn 25%, đòi hỏi một số vốn đầu tư lên
đến gần 4 tỷ USD. Vì vậy, việc tìmkiếm và huy động mọi nguồn lực xã hội, trong và
ngoài nước để phát triển hệ thốngcấp nước là một yêu cầu mang tính khách quan và là
một trong những giải pháp lớn củaTổng Công Ty Cấp Nước Sài gòn (TCTCNSG) sẽ
thực hiện trong 15 năm tới.
1.1. Đối với nhu cầu đầu tư xây dựngcác nhà máy nước mới, các nhà đầu tư trong
nước và nước ngoài hết sức quan tâm.Với chính sách mở cửa, dự án Nhà máy nước Bình
An công suất 100.000m3/ngày, nhàmáy nước đầu tiên trong cả nước thực hiện theo hình
thức BOT do nhà đầu tư Malaysia thực hiệnđược cấp giấy phép đầu tư tháng 3/1995,
khởi công xây dựng năm 1996 và đivào hoạt động tháng 8/1999; cho đến nay nhà máy
nước này vẫn hoạt động tốt và cóhiệu quả cho cả nhà đầu tư và TCTCNSG. Nhà máy
nước BOO Thủ Đức công suất300.000m3/ngày do Côngty Cổ Phần BOO Nước Thủ
Đức đầu tư và bán sỉ toàn bộ sản lượngcho TCTCNSG và Nhà máy nước Kênh Đông do
Công ty Cổ Phần Cấp nước Kênh Đôngđầu tư công suất 200.000m3/ngày,bán sỉ cho
TCTCNSG 150.000m3/ngày đangtriển khai thực hiện theo hướng xã hội hóa cấp nước.
Hiện có rất nhiều nhà đầu tư trongvà ngoài nước tiếp xúc với TCTCNSG để tìm hiểu và
mong muốn có cơ hội đầu tư các Nhàmáy nước mới trong tương lai. Cho đến nay, trong
cơ cấu nguồn nước sản xuất và cungcấp cho thành phố, ngoài TCTCNSG, các đơn vị
thuộc thành phần kinh tế khác chiếmtỉ lệ khoảng 21% và dự kiến đến đầu năm 2011 sẽ
tăng lên khoảng 37% (bao gồm Côngty Cấp nước BOT Bình An, Công ty Cổ phần BOO
Nước Thủ Đức, Công ty Cổ phần Cấpnước Kênh Đông và một số doanh nghiệp khác).
Với khả năng giải quyết được về mặtkỹ thuật công nghệ cấp nước và năng lực thi công,
việc đầu tư phát triển các nhà máynước mới hiện nay dễ dàng huy động nguồn vốn trong
nước để thực hiện. Vấn đề đặt rasau một thời gian triển khai thực hiện xã hội hóa trong
đầu tư cho ngành nước sẽ được trìnhbày ở phần sau.
1.2. Đối với nhu cầu đầu tư pháttriển mạng lưới đường ống cấp nước, đặc biệt là
các tuyến ống truyền dẫn và cấp 1,do tính chất đặc thù, cần đầu tư một lần để vận hành
khai thác lâu dài đáp ứng nhu cầutiêu thụ nước tăng lên theo từng giai đoạn phát triển
sau này, không thể đầu tư chỉ chonhu cầu trước mắt rồi sau này đầu tư tiếp vì không có
quỹ đất và vấn đề kỹ thuật cũng sẽcó khó khăn. Vốn đầu tư cho mạng truyền dẫn, cấp 1
là rất lớn, thời gian thu hồi vốnkéo dài do giá nước sạch còn phụ thuộc vào chính sách
giá, yếu tố an sinh xã hội, khunggiá nước sạch nhà nước quy định, có quan tâm đến mặt
bằng thu nhập của nhiều ngườitrong xã hội. Trong khi đó, mục tiêu của nhà đầu tư là lợi
nhuận, khai thác thu hồi vốn nhanhnên cho đến nay chưa có nhà đầu tư thực sự quan
tâm. Đầu tư mạng cấp 2 cũng mang tínhchất tương tự mặc dù mức độ có nhẹ hơn.
Tình hình đó đặt ra các hướng giảiquyết cho các đơn vị cấp nước là bên cạnh việc
đầu tư phát triển mạng lưới đường ốngcấp 3 bằng nguồn vốn của doanh nghiệp hoặc vay
tín dụng dài hạn, mạng lưới đường ốngtruyền dẫn, cấp 1 và cấp 2 cần phải được đầu tư
bằng các nguồn vốn ngân sách cấpphát, ngân sách cho mượn không lãi suất, tín dụng ưu
đãi của Nhà nước hoặc nguồn vốnODA dài hạn hoặc phối hợp các nguồn vốn nói trên
mới có thể thực hiện được một cáchcó hiệu quả.
1.3. Đối với đầu tư giảm nước thấtthoát – thất thu, một trong những quan tâm
hàng đầu của hoạt động sản xuất vàcung cấp nước của TCTCNSG, mặc dù đã được tập
trung nhiều thời gian, công sức vàvốn liếng để giải quyết, nhưng với hệ thống cấp nước
có quy mô lớn, hình thành và pháttriển qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, hạ tầng kỹ
thuật và trang thiết bị phục vụ côngtác quản lý, kiểm soát mạng lưới cấp nước còn thiếu
thốn, chưa đồng bộ, tình hình nướcthất thoát – thất thu vẫn còn cao, hiện chỉ đạt yêu cầu
kìm hãm đà gia tăng, kết quả chưacó tính bền vững.
Với việc thực hiện giảm nước thấtthoát – thất thu theo cách truyền thống qua việc
tổ chức cho các đơn vị tư vấn nghiêncứu khả thi, thiết kế, giám sát, huấn luyện đào tạo;
các đơn vị nhà thầu hợp đồng cungcấp vật tư, thi công, thiết lập phân vùng tách mạng,
thay thế tuyến ống cũ; đơn vị cấpnước quản lý mạng lưới, dò tìm, sửa bể… đã không
mang lại hiệu quả mong muốn hoặchiệu quả thấp, không bền vững.
Việc giảm nước thất thoát – thấtthu tuy là công việc thường xuyên nhưng ở đây
cần tính chất chuyên nghiệp, lâu dàivà phải được giải quyết thông qua con đường đầu tư
để bảo đảm kiểm soát thực hiện cácgiải pháp giảm và duy trì được tỉ lệ giảm nước thất
thoát – thất thu và điều này phụthuộc vào các yếu tố vốn đầu tư, con người và cơ chế
thực hiện vốn có nhiều khó khăn, hạnchế và bất cập đối với đơn vị cấp nước.
Tương tự như đầu tư xây dựng mộtnhà máy nước để tăng thêm sản lượng sản
xuất nước sạch, việc giảm nước thấtthoát – thất thu cũng phải được đầu tư để thu hồi lại
nước rõ rĩ, tăng lượng nước cung cấpmà không phải xây dựng thêm nhà máy nước mới.
Việc đầu tư này được thực hiệntheo một dự án đã có kế hoạch trước nhằm khai thác và
phát huy các ưu thế về tính chuyênnghiệp, kinh nghiệm, kỹ thuật chuyên môn; về nguồn
tài chính bảo đảm những nguồn lựccần thiết cho đầu tư, vận hành, bão dưỡng đúng mức,
quyết định và hành động nhanh chóng,quản lý một cách xuyên suốt, thực hiện nhiệm vụ
với mục tiêu đã xác định gắn liềnvới lợi ích kinh tế thu được trực tiếp từ hiệu quả giảm
nước rò rỉ. Tuy nhiên, kết quả thựchiện dự án không chỉ là thành công mà có khi thất bại,
nghĩa là có yếu tố rủi ro.
Kêu gọi đầu tư – nhất là đầu tư nướcngoài trong lĩnh vực giảm nước thất thoát
thất thu được đặt ra để một mặt giảiquyết vấn đề nguồn lực, kinh nghiệm, khả năng
chuyên môn, đồng thời trên cơ sở đóchia sẻ lợi ích từ hiệu quả cũng như chia sẻ rủi ro từ
kết quả thực hiện thu hồi nước ròrỉ. Việc chia sẻ lợi ích từ hiệu quả thu hồi nước rò rỉ
vừa là phương tiện vừa là động lựccho cả nhà đầu tư và đơn vị cấp nước trong việc thực
hiện các dự án thu hồi nước rò rỉ.
Hiện tại, hợp đồng quản lý và giảmrò rỉ dựa trên hiệu quả thực hiện theo hình
thức đối tác công - tư (PPP) đang đượcáp dụng cho Dự án Giảm thất thoát nước thành
phố Hồ Chí Minh bằng nguồn vốn vaycủa Ngân hàng Thế giới (WB) với nội dung phân
chia mạng lưới phân phối nước củathành phố thành 6 vùng, thực hiện giảm nước rò rỉ
trong 2 vùng (vùng 1 và vùng 2)trong đó thực hiện hợp đồng PPP tại vùng 1 với một nhà
thầu chuyên nghiệp. Mặc dù kết quảthực hiện còn đang ở phía trước, song việc nghiên
cứu áp dụng cũng cần được tiếp tụcvà có sự hỗ trợ về hành lang pháp lý để làm căn cứ
cho việc tăng cường mối quan hệ giữakhu vực công và khu vực tư ở nước ta hiện nay nói
chung.
Thời gian gần đây, qua thông tin củaDự án Giảm thất thoát nước Ngân hàng Thế
giới và các thông tin khác của cácđịnh chế tài chính quốc tế, một số nhà đầu tư nước
ngoài trong lĩnh vực này cũng bắt đầuquan tâm đặt vấn đề hợp tác đầu tư với TCTCNSG
để cùng chia sẻ lợi ích cũng như rủiro trong công tác giảm thất thoát nước.
2.Với các hình thức xã hội hoá dịchvụ cấp nước nêu trên tại thành phố trong thời
gian qua cho phép rút ra những kếtquả và bài học kinh nghiệm là:
- Đối với Nhà máy nước BOT BìnhAn, do một nhà đầu tư chuyên ngành cấp
nước thực hiện nên hoạt động thuậnlợi, ổn định, chất lượng nước sạch được bảo đảm, giá
mua bán sỉ nước sạch không biến độnggóp phần vào việc tăng cường bổ sung nguồn
nước sạch cho thành phố.
- Đối với các dự án nhà máy nước đangthực hiện, do các nhà đầu tư không phải
trong ngành nước thực hiện nên ngoàiviệc giảm bớt các thủ tục trong việc thực hiện do
không sử dụng nguồn vốn Nhà nước,các vấn đề khác khi gặp trở ngại việc xử lý tình
huống có khó khăn, hạn chế, khôngchuyên nghiệp, giải quyết chậm, gây bức xúc trong
dư luận.
Vấn đề được đặt ra là cần có một cơchế linh hoạt cho phép hợp tác đầu tư giữa
đơn vị cấp nước trong địa bàn đượcgiao quản lý với nhà đầu tư có năng lực về vốn đầu
tư để dự án được thực hiện một cáchnhanh chóng, hạn chế rủi ro, xử lý chuyên nghiệp và
phối hợp tốt trong quá trình vận hànhsau khi dự án được đưa vào hoạt động để dự án
được thuận lợi và hiệu quả hơn.
- Việc xã hội hóa trong đầu tư pháttriển mạng lưới cấp nước, giảm nước thất
thoát – thất thu chưa được chú ý đầyđủ do chưa có những cơ chế khuyến khích phù hợp
nên chưa thu hút sự quan tâm của cácnhà đầu tư. Giá nước chưa tính đủ, chưa thể gánh
nổi gánh nặng chi phí đầu tư lớnhiện tại cho lợi ích trong tương lai. Chính sách tín dụng
đối với việc vay vốn đầu tư pháttriển mạng lưới cấp nước còn quá khó khăn, không
khuyến khích nhà đầu tư. Các Sở ngànhliên quan chưa chia sẻ khái niệm đầu tư giảm
thất thoát nước như là đầu tư pháttriển nguồn nước mà không có Nhà máy nước. Chưa
có cơ chế thưởng phù hợp cho việcgiảm thất thoát nước để động viên lực lượng thực
hiện công tác đầy khó khăn phức tạpvà nhiều rủi ro này.
Hoạt động giảm nước thất thoát thấtthu đang trở thành chủ trương lớn của Nhà
nước, kiến nghị xem xét có cơ chếthưởng giảm nước thất thoát thất thu cho đơn vị cấp
nước căn cứ lợi ích thiết thực việcthu hồi lượng nước rò rỉ đã mất đi thay vì đầu tư nhà
máy nước mới để tăng sản lượngthay thế cho việc tính toán thưởng theo hình thức
thưởng tiết kiệm.
Việc thực hiện chủ trương xã hội hóacung ứng các dịch vụ công cộng, trong
đó có hoạt động cấp nước nhằm thuhút sự tham gia của khu vực ngoài nhà nước, giải
quyết vấn đề nguồn lực, kinh nghiệmchuyên môn trong việc cung cấp, phân phối, sử
dụng một cách có hiệu quả tài sảndịch vụ của khu vực công mà thông thường do khu
vực công đảm trách; Nhà nước cầntiếp tục bổ sung hoàn thiện khung pháp lý (Nghị
định số 108/2009/NĐ-CP ngày27/11/2009 về hợp đồng BOT, BTO, BT, chưa có
khung pháp lý cho các dạng khác) cầncó cơ chế khuyến khích theo các loại hình phù
hợp để khu vực ngoài nhà nước thamgia rộng rãi hơn__
cac giai doan ppp.JPG (512.58 KB, Lượt tải về: 378)
30/3/2011 11:27 Tải lên
cac giai doan ppp 1 so nuoc.JPG (413.12 KB, Lượt tải về: 367)
30/3/2011 11:19 Tải lên


xaydung360.vn mainila water concession.rar
25/3/2011 17:48 Tải lên
Click to download
5.52 MB, Lượt tải về: 9432
25/3/2011 17:51 Tải lên
Click to download
7.85 MB, Lượt tải về: 17694

tungshin gửi lúc 25/3/2011 15:50
A ơi cho e hỏi tại sao VN nên phát triển theo mô hình PPP này ạ
e mới đang nghiên cứu ...
QUY CHẾ THÍ ĐIỂM PPP: BƯỚC TIẾN CƠ BẢN (25/02/2011) |
Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công - tư. KINH DOANH đã có cuộc trao đổi với bà Samantha Campbell, luật sư Công ty Luật Gide Loyrette Nouel về một số vấn đề liên quan đến loại hình đầu tư này tại Việt Nam. |
| Xin bà cho biết một vài nhận xét của mình về Quyết định 71/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP) tại Việt Nam?Nhu cầu hoàn thiện thể chế chính sách liên quan đến mô hình PPP của Việt Nam đã được nghiên cứu và thảo luận trong nhiều năm gần đây, và đặc biệt là trong năm 2010. Theo tôi, những chính sách này vẫn còn thiếu trong điều kiện của Việt Nam, nhưng hy vọng chúng sẽ là một liều thuốc hữu hiệu cho những nhu cầu tài chính để phát triển hạ tầng tại Việt Nam. Theo như nhận định ban đầu, lý thuyết PPP có thể được hiểu rất rộng, bao trùm lên bất cứ hình thức hợp tác nào, giữa khu vực tư nhân và nhà nước, để phát triển hạ tầng và các dịch vụ công. Điều đó đã được thể hiện rõ trong định nghĩa "hình thức đầu tư PPP" ở ngay trong Quyết định này, trong đó cũng chỉ ra rằng sự hợp tác cần phải được dựa trên các hợp đồng. Dựa vào định nghĩa này thì thật ra hình thức PPP không phải là mới ở Việt Nam. Một số dự án hạ tầng đã và đang được thực hiện dựa trên khung pháp lý của Nghị định 108, quy định về các hình thức Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao (BOT), Xây dựng - Chuyển giao - Vận hành (BTO) và Xây dựng - Chuyển giao (BT). Những hình thức đầu tư này đều là những hình thức của PPP. Tuy nhiên, trong lịch sử, những mô hình này không phải lúc nào cũng đem lại hiệu quả tối đa, nhất là đối với việc điều phối nguồn lực của Nhà nước và sử dụng cán cân thanh toán quốc gia. Do đó, yếu tố chính trong chính sách liên quan đến PPP chính là phải mở rộng thêm những khả năng khác để xây dựng các dự án hạ tầng trong hoàn cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang cần phải huy động hàng chục, nếu không nói đến hàng trăm, hàng ngàn tỷ USD cho các dịch vụ công và hạ tầng trong những năm tới đây, trong lúc nguồn lực của Chính phủ Việt Nam và hỗ trợ phát triển là có hạn. Tôi cho rằng Quyết định này là bước tiến cơ bản đầu tư trong hướng này.Nếu xét từ khía cạnh của cộng đồng doanh nghiệp quốc tế, thì trên thực tế hiện vẫn còn một số quan ngại trong việc thiếu khuôn khổ luật pháp cho phép các hình thức đầu tư khác của khu vực tư nhân vào cơ sở hạ tầng. Như trong lĩnh vực quản lý dài hạn hoặc nâng cấp cơ sở hạ tầng, mặc dù có rất ít, hoặc gần như không có yếu tố "xây dựng" trong những dự án này nhưng chi phí thực hiện có thể là rất lớn. Tôi lấy ví dụ trong các dự án nạo vét sông hồ hoặc dịch vụ nước thải và vệ sinh môi trường và sự không rõ ràng về luật pháp xung quanh khung pháp lý để thực hiện các dự án cho loại này thực sự là đã ngăn cản một số vốn đầu tư vào Việt Nam. Và trong trường hợp này thì Quy định mới đã được chào đón dù vẫn còn rất sơ lược về nội dung. Bà có nhận xét gì về các lĩnh vực được cho phép thí điểm trong Quy chế này?Vâng, có một loạt các lĩnh vực đã được cho phép trong Quy chế như giao thông, nước sạch, điện, y tế, môi trường... đã phản ánh nhu cầu mà Chính phủ Việt Nam muốn kêu gọi sự tham gia của khu vực tư nhân nhất. Điều này cho thấy nhu cầu của Việt Nam phát triển hạ tầng và dịch vụ công là rất lớn. Những lĩnh vực này nói chung là vẫn giống với các lĩnh vực đã quy định trong Nghị định 108 đối với mục đích đầu tư BOT, BTO và BT, nhưng có sự khác biệt đáng chú ý vì đã có thêm giao thông đô thị và y tế. Ở các nước khác, đây là những lĩnh vực mà khu vực tư nhân làm tốt, có nhiều bí quyết, cũng như họ chính là chất xúc tác cho việc gọi vốn cho các dự án PPP. Tuy nhiên, sự tham gia vào các hình thức BOT, BTO hay BT có thể sẽ không nhận được sự đồng thuận cao nhất của khu vực này, đặc biệt khi cung cấp dịch vụ (ví dụ như điều hành và quản lý giao thông công cộng đô thị hay các dịch vụ nâng cấp và quản lý bệnh viện) cần được tính đến. Chúng tôi mong muốn nhìn thấy một hình thức PPP khác được thực hiện sẽ phát triển kinh nghiệm thực tế như thế nào trong tất cả các lĩnh vực, dựa vào Quy chế thí điểm này. Vậy Chính phủ Việt Nam nên làm gì để làm cho các dự án PPP trở nên hấp dẫn hơn đối với khu vực tư nhân? Sự thiếu hoàn thiện thể chế lập pháp cũng chưa phải là nguyên nhân chính ngăn cản sự tham gia của thành phần kinh tế tư nhân vào các dự án PPP. Theo tôi, vấn đề quan trọng nhất chính là tính khả thi và khả năng phát triển của chính dự án đó đối với nhà đầu tư tư nhân. Sự tính toán lợi nhuận ròng là vấn đề cốt lõi, cho dù có hay không có cơ chế vốn được thu xếp, những cuộc tranh luận dài giữa các cơ quan nhà nước và nhà đầu tư về mức độ rủi ro của dự án, hay những cam kết trợ giúp của Nhà nước thông qua các hình thức cung cấp (ví dụ như nguyên liệu thô) và đầu ra của sản phẩm sẽ tiếp tục làm nản lòng các nhà đầu tư. Ngoài ra, bất cứ xem xét nào của Chính phủ về việc đảm nhận các rủi ro về việc hoán đổi nội tệ sẽ được nhà đầu tư hoan nghênh. Cả Nghị định 108 và Quy chế thí điểm đều cho thấy rằng sự chuẩn bị đấu thầu cạnh tranh cần phải được chú trọng. Đây chính là một quá trình thực hành có hiệu quả nhất cho các bên. Nhà đầu tư cần phải biết họ đang đấu thầu loại dự án nào để có thể tham gia thầu hiệu quả nhất, và ngược lại, cũng phải biết tận dụng các ưu đãi của Nhà nước cho các mục tiêu cạnh tranh của mình. Các yêu cầu về kỹ thuật, các cam kết của Chính phủ và bất cứ sự sắp xếp nguồn vốn nào cũng cần phải được thể hiện rõ bởi các báo cáo và các nghiên cứu đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tài liệu đạt tiêu chuẩn cũng là một yếu tố hấp dẫn đối với khu vực tư nhân, để làm rõ những vấn đề còn băn khoăn và giảm thời gian thương thuyết. |
-- Hoàng Hoa -- |
xaydung360.vn dac diem bot.jpg (314.69 KB, Lượt tải về: 301)
31/3/2011 10:58 Tải lên
kinhnghiemQuanheDoiTacCongTuJohnsoV.pdf
(694.61 KB, Lượt tải về: 6842)
NganHangPhatTrienChauA_PPP-Handbook-vn.pdf
(1002.38 KB, Lượt tải về: 7237)
tungshin gửi lúc 4/5/2011 16:14
giáo viên của e yêu cầu thêm phần đánh giá quy chế PPP thí điểm của nước ta, mọi n ...
tungshin gửi lúc 4/5/2011 16:14
giáo viên của e yêu cầu thêm phần đánh giá quy chế PPP thí điểm của nước ta, mọi n ...
NCKH - Draft De cuong_tuanda+tapht_01_03_2011.doc
(73 KB, Lượt tải về: 6612)
23/3/2012 11:18 Tải lên
Click to download
20.44 KB, Lượt tải về: 6637
| Chào mừng ghé thăm Phần mềm ôn thi sát hạch chứng chỉ hành nghề xây dựng (https://xaydung360.vn/diendan/) | Powered by Discuz! X3.2 |