XD360 KÍNH CHÚC CHO MỌI NHÀ VẠN SỰ AN LÀNH!

Phần mềm ôn thi sát hạch chứng chỉ hành nghề xây dựng

 Quên mật khẩu
 Đăng ký mới
Anh Trần HòeBùi Quốc Hưng
Xem: 5117|Trả lời: 10
In Chủ đề trước Tiếp theo
Thu gọn cột thông tin

Quyền năng tư tưởng (Khám phá Khoa học minh triết thiêng liêng bí truyền)

[Lấy địa chỉ]
Nhảy đến trang chỉ định
1#

Hãy đăng nhập để có nhiều chức năng hữu dụng hơn và xem ảnh rõ hơn!

Bạn phải đăng nhập để xem được nội dung, nếu bạn chưa có tài khoản? hãy Đăng ký mới

x
Do cơ duyên, tôi tiếp cận được kiến thức thuộc về Khoa học minh triết thiêng liêng của Thông thiên học. Tôi rất tâm đắc và say mê và từ ngày tiếp cận nghiên cứu tôi ngộ ra nhiều điều trong cuộc sống.
Xin chia sẻ với đồng nghiệp xây dựng chúng ta kiến thức MINH TRIẾT BÍ TRUYỀN NÀY.

Lưu ý: đọc với tâm thức trong sáng bạn sẽ hiểu dễ dàng - Không bài bác theo kiểu "chưa thấy chưa tin".

Tác gỉa  ANNIE  BESANT

LỜI  NÓI  ÐẦU



Tôi soạn quyển sách nhỏ này nhằm giúp học giả tìm hiểu bản tính mình, tuy chưa hoàn hảo, nhưng về phương diện trí thức, ít ra nó cũng hữu ích cho kẻ sơ cơ.
     
Người nào thấu rõ các nguyên tắc trình bày nơi đây có thể cộng tác với thiên cơ để mau tiến hóa, đồng thời các quan năng trí thức của mình cũng phát triển nhanh chóng nữa.
Ðoạn đầu quyển sách này sẽ đem lại nhiều điểm khó khăn cho những độc giả chưa bén duyên với mùi đạo, nên những người đó có lẽ chỉ đọc sơ rồi bỏ qua. Thật ra phần nhập đề là căn bản cần thiết cho những ai muốn tìm hiểu các mối liên quan giữa trí thức cùng các môi giới của bản tính con người và ngoại cảnh.
       Kẻ nào muốn thực hành câu châm ngôn: “Mình tự biết mình” thì chẳng nên giải đãi trước sự cố gắng nhỏ nhen và cũng đừng mong thức ăn tinh thần ngẫu nhiên rơi vào miệng.
Dầu cho tác phẩm nhỏ này chỉ giúp được vài học giả đứng đắn vượt qua một ít trở ngại trên đường hiểm trở thì cũng đủ đạt mục đích rồi vậy.

ANNIE  BESAN

PHẦN  MỞ  ÐẦU

Phải sống một đời sống trong sạch và thanh cao mới có thể nhận thức được giá trị của Minh Triết. Quyển sách nhỏ này ra đời nhằm mục đích nâng đỡ các học giả chân chính muốn áp dụng sự hiểu biết về lý thuyết đã lãnh hội trong khi nghiên cứu giáo lý Thông Thiên Học, ngõ hầu trau dồi bản tính mình và giúp ích nhân loại. Chúng tôi hi vọng sự thông hiểu tinh tường về bản tính trí thức sẽ hướng dẫn những kẻ ấy quyết tâm lánh dữ làm lành.
Cái tính tình thúc giục chúng ta sống một cuộc đời ngay thật sẽ giảm bớt phân nửa giá trị nếu ánh sáng của trí tuệ không soi tỏ con đường lập hạnh của chúng ta. Khác nào kẻ mù, càng đi xa thì càng lạc lối, để rồi rơi xuống hố sâu, và cũng như  Chơn Nhơn (Ego) bị vô minh che lấp, xa lìa đường chính, chung cuộc sa đọa vào vực thẳm của chướng ngbiệp.
Avidya –  Vô minh –  Chính là bước đầu làm cho con người xa lìa Ðơn Nhứt để tiến đến sự chia rẽ. Do đó, người đời còn vô minh thì còn chia rẽ, giảm bớt vô minh thì giảm bớt chia rẽ. Chỉ khi nào con người diệt tận vô minh thì mới an vui tự tại.

HỮU NGÃ LÀ NGƯỜI-HIỂU-BIẾT

Khi nghiên cứu bản tính con người, chúng ta phải phân biệt giữa con người và các thể, giữa Chơn ngã với các lớp y phục bên ngoài.
Chơn ngã thì duy nhất, mặc dù Chơn ngã biểu hiện dưới nhiều hình thức bằng nhiều thể chất khác nhau. Dĩ nhiên, theo nghĩa đầy đủ nhất của từ thì chỉ có cái Ta là Chơn Ngã Duy Nhất. Tỷ như tất cả tia sáng đều do mặt trời phát quang, còn những cái “Ta” tức là con người (Bản ngã) đều là những tia sáng của Ðại Ngã, cũng gọi là Chơn Ngã tối cao phát huy. Vì vậy mỗi người trong chúng ta đều có thể tự hào: “Ta là Ðại Ngã”.
Tuy nhiên, trong mục tiêu hiện thời, chúng ta chỉ đề cập đến một tia sáng, song chúng ta cũng có thể xác định thực tính duy nhất của tia sáng riêng rẽ này, dù nó đang bị màn sắc tướng che khuất.
Tâm thức là Ðơn Nhứt, nhưng tại chúng ta thường hay phân tích nó ra nhiều cách để dễ biện luận, hoặc giả do những giác quan yếu đuối của chúng ta tạo ra những quan niệm sai lầm để chúng ta tạm dùng nơi cõi trần.
Cái Ta là Hữu ngã, tức là Bản ngã luôn luôn biểu lộ chung trong ba trạng thái: “Nhận thức, Ý muốn và Hành động” –  do đó phát sanh những tư tưởng, những ham muốn và những hành động. Vả lại trong Bản ngã không có sự phân chia, cho nên toàn thể cái “Ta” hiểu biết, toàn thể cái “Ta” ham muốn và toàn thể cái “Ta” hành động. Ngoài ra các động tác này tương quan, tương ứng với nhau, vì vậy, khi chúng ta hiểu biết thì chúng hành động và ham muốn, khi chúng ta hành động thì chúng ta cũng hiểu biết và ham muốn, và khi chúng ta ham muốn thì chúng ta cũng hành động và hiểu biết.
Khi một chức năng nào vượt quá mức độ thì làm cho chức năng khác suy nhược, nhưng không tiêu diệt hẳn. Như một trong ba trạng thái của Bản ngã là chức năng “nhận thức” dù có tập trung mãnh liệt thế mấy cũng không thể diệt chức năng “ý muốn” và “hành động”. Hai chức năng này vẫn tồn tại và tiềm tàng trong Bản ngã. Hơn nữa, nhờ nghiên cứu tỉ mỉ nên chúng ta mới phân tích được.
Chúng ta gọi ba chức năng đó là “ba trạng thái của Bản ngã”. Thêm vài lời giải thích, có lẽ chúng ta dễ hiểu hơn: khi cái Ta an tĩnh thì trạng thái “nhận thức” phát hiện, nhờ đó chúng ta có thể tiếp nhận hình dáng mọi vật trước mắt. Khi cái Ta chú định vào sự biến đổi của trạng thái, thì phát sanh “Ý muốn”, và khi cái Ta đứng trước một cảnh vật nào, rồi phát động năng lực để tiếp xúc với cảnh vật đó thì sanh ra “Hành động”. Như vậy, chúng ta hiểu rằng ba trạng thái này không phải là sự chia rẽ của Bản ngã như một chia làm ba, cũng không phải ba phối hợp làm một, mà là cái một toàn thể, không chia xẻ được, phát hiện ra ba cách khác nhau.
Thật khó mà quan niệm minh bạch về Bản ngã, chỉ có một cách giản tiện gọi đích danh nó là Bản ngã. Bản ngã là tâm thức, nhạy cảm và luôn luôn hiện hữu. Mỗi người trong chúng ta đều nhìn nhận hiện đang “có Ta”. Không một ai phủ nhận cái “có Ta” hay thẳng thắn quả quyết rằng “không có Ta”. Như  Bhavagan  Das  đã nói: “Bản ngã là căn bản trọng yếu của sự sống... Theo lời ông Vachaspati –  Mishra trong Luận giải (the Bhamati) về quyển  Shariraka –  Bhashya của Ngài Sankaracharya thì không có người nào hoài nghi mà tự hỏi: “Có Ta hay không có Ta”? [1]
Thừa nhận “có Ta”, tức là chấp Ngã, đó là cái thừa nhận đầu tiên, trước hết mọi sự mà không cần phải trưng bằng cớ. Vì không một thực chứng nào có thể làm cho nó vững chắc thêm và cũng không có một phản chứng nào khác làm cho nó yếu bớt được. Cả thực chứng và phản chứng đều căn cứ  nơi “Ngã chấp”. Cảm giác không thể bắt bẻ được là vì chúng ta hiện đang Sống đây chỉ cảm biết hơn và kém. Khi Vui thích ta cảm thấy “Ta hơn”, nhưng đến lúc Khổ, ta lại cảm thấy “Ta kém”.
Nếu quan sát kỹ lưỡng, chúng ta cảm thấy “Ngã chấp” này diễn tả ba cách riêng biệt:
1 –  Sự phản hưởng từ bên trong cái Vô ngã là Sự hiểu biết, nguồn gốc của tư tưởng.
2 –  Sự tập trung vào nội tâm là Ý chí, nguồn gốc của ham muốn.
3 –  Sự phát triển ra ngoại cảnh là Năng lực, nguồn gốc của sự hoạt động.
“Ta hiểu biết hay suy tư”, “Ta ham muốn hay ước vọng”, “Ta phát huy năng lực hay hành động”, đó là ba sự xác định của Ngã chấp, là Bản ngã duy nhất. Tất cả sự biểu hiện đều có thể gom vào một hay của ba đề mục này. Bản ngã cũng chỉ biểu lộ ở cõi trần theo ba phương thế đó mà thôi, giống như các màu sắc biến đổi đều do ba màu chánh. Cũng một lẽ ấy, tất cả những biến tướng của Bản ngã đều do “Hiểu biết”, “Ý muốn” và “Hành động” hợp chung lại.
Cái Ta ham muốn, cái Ta hiểu biết, cái Ta hành động, chính là cái Một trong trường tồn, tạo thành căn bản của cá thể trong Không gian và Thời gian. Ðó là Bản ngã dưới hình thức tư tưởng, là trạng thái của Kẻ-hiểu-biết và cũng là đề mục của quyển sách.

(còn tiếp..)




Số người tham gia 2Uy Tín: +6 Thưởng +6 Thanked +2 Thu lại Lý do
tranhungdao12a3 + 3 + 3 + 1 Bài hay quá. Thanks!
minhco08 + 3 + 3 + 1 Bài hay quá. Thanks!

Xem tất cả

www.xaydung360.vn XÂY TÂM, DỰNG TẦM CHUYÊN NGHIỆP

2#
 Tác giả| fubi Đăng lúc 24/2/2012 23:54 | Chỉ xem của tác giả
Trả lời fubi Bài mới

VÔ NGÃ LÀ CÁI ÐƯỢC-HIỂU-BIẾT



     Bản ngã vốn “bản tính là hiểu biết”: tự thấy nơi nó phản chiếu nhiều sắc tướng, và do kinh nghiệm, Bản ngã nhận biết rằng nó không thể hiểu biết, hay hành động, hoặc ham muốn xuyên qua những sắc tướng được. Tuy nhiên, nhờ sắc tướng mà Bản ngã mới nhận thức được sắc tướng không thuộc phạm vi kiểm soát của Bản ngã như lúc ban sơ. Bản ngã đã ý thức được sắc tướng và xem sắc tướng như nó. (Mặc dù quan niệm này sai lầm, nhưng rất cần thiết). Vì Bản ngã hiểu biết chớ không phải sắc tướng hiểu biết hay suy tư. Bản ngã ham muốn chớ tuyệt nhiên sắc tướng không ham muốn hay vọng động chi cả. Bản ngã phát huy năng lực chớ sắc tướng không mảy may xê dịch hay hành động gì hết. Bởi vậy, Bản ngã không thể xâm nhập vào sắc tướng để nói: “Ta biết”, “Ta muốn”, “Ta làm”, và sau cùng Bản ngã hiểu rằng mỗi sắc tướng đều có cái “Ngã” riêng biệt, đang biến chuyển dưới hình thức kim thạch, thảo mộc, thú cầm, nhân loại và siêu nhân, đoạn tổng hợp lại bằng một từ ngữ dễ hiểu là “Không Ta”, tức  là Vô ngã.
Vô ngã là gì?
Ðó là câu hỏi đã nêu ra từ ngàn xưa và được giải đáp như sau:
Vô ngã nghĩa là  “Không Ta” hay là không chấp nhận có Ta. Tất cả những gì mà Ta không hiểu biết, Ta không ham muốn hay là Ta không hành động, đều gọi là Vô ngã.
Lời giải đáp trên đây phù hợp với nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, sau khi lần lượt phân tích các trợ duyên –  ngoại trừ bản chất tế nhị cấu tạo Bản ngã –  thì Bản ngã hiểu rằng các trợ duyên ấy là nhiều thành phần của Vô ngã, là đối tượng của sự hiểu biết, kết thành “Sự-vật-để-hiểu-biết”, chớ không phải “Người-hiểu-biết”.
Thật ra Bản ngã không khi nào tự xem nó như một đối tượng riêng biệt, chính do bản chất tinh vi hơn hết tạo cho Bản ngã một cái Ta riêng biệt, vì bản chất này rất cần thiết để tạo thành một cá thể. Nếu hiểu biết bản chất đó chỉ là Vô ngã thì chúng ta mới có thể nhìn sâu vào Tất cả.
SỰ HIỂU BIẾT LÀ TRI
Muốn Bản ngã trở thành “Người-hiểu-biết”, còn Vô ngã thành “Cái-được-hiểu- biết” thì giữa đôi bên phải có sự tương quan rõ rệt. Bản ngã phải ảnh hưởng đến Vô ngã và Vô ngã cũng phải ảnh hưởng đến Bản ngã thì mới sanh ra sự hiểu biết.
Sự hiểu biết phân biệt là môi giới giữa Bản ngã và Vô ngã. Ðặc tính của sự hiểu biết sẽ là đầu đề cho chương sau. Tuy nhiên, trước hết chúng ta cần phải hiểu rõ rằng sự hiểu biết là mối liên kết bao hàm nhị nguyên:
1 –  Ý thức được có một cái “Ta” (Bản ngã hay Hữu ngã).
2 –  Thừa nhận có một cái “Không Ta” (Phi ngã hay Vô ngã).
Hai yếu tố này phải tương tác nhau mới sanh ra “Sự hiểu biết”.
Người-hiểu-biết, Cái-hiểu-biết, Sự-hiểu-biết –  Ðó là Ba trong Một, mà chúng ta cần phải cố gắng tìm hiểu cho tường tận, nếu chúng ta muốn dùng sức mạnh tư tưởng để làm cứu cánh cho mình và phục vụ đời.
Theo thuật ngữ Tây phương: Trí khôn hiểu biết là Chủ thể, vật thể được hiểu biết là Ðối tượng, còn mối liên kết giữa Chủ thể và Ðối tượng là Sự hiểu biết.
Vả lại, chúng ta cần phải hiểu về đặc tính của Người-hiểu-biết và Cái-hiểu-biết, sự tương quan giữa Người-hiểu-biết và Cái-hiểu-biết, sau cùng là cách phối hợp các mối tương quan ấy.
Khi hiểu rõ các điều trên đây, chúng ta đã trải qua một bước dài để đi đến chỗ Mình tự biết Mình, là cơ cấu của Minh triết. Chừng đó chúng ta mới có thể giúp đỡ những người lân cận có hiệu quả và giúp đời đắc lực. Ðó là tiêu chuẩn chân thật của Minh triết và cũng nhờ lòng Từ bi bác ái mà Minh triết cứu độ chúng sanh thoát khỏi phiền não, đến tận bờ giác.
Ðó cũng là đề mục cho sự nghiên cứu của chúng ta. Sách Tâm lý học Cổ truyền rất thâm diệu chép rằng: Ðối tượng của triết lý là diệt khổ. Vì lẽ đó mà các thức giả phải suy tư và cũng vì thế mà sự hiểu biết vẫn được theo dõi không ngừng.

Còn tiếp ...

Số người tham gia 1Uy Tín: +3 Thưởng +3 Thanked +1 Thu lại Lý do
minhco08 + 3 + 3 + 1 Bài hay quá. Thanks!

Xem tất cả

www.xaydung360.vn XÂY TÂM, DỰNG TẦM CHUYÊN NGHIỆP

3#
 Tác giả| fubi Đăng lúc 24/2/2012 23:55 | Chỉ xem của tác giả
Trả lời fubi Bài mới

CHƯƠNG  MỘT

BẢN CHẤT TƯ TƯỞNG
Bản chất của tư tưởng có thể nghiên cứu về hai quan điểm:
    1 –  Quan điểm về Tâm thức, là khả năng hiểu biết phân biệt,
    2 –  Quan điểm về Sắc tướng, là hình thể. Nhờ có hình thể thì chúng ta mới thấy biết. Hình thể thường biến đổi theo ngoại cảnh.
Theo Triết học, chúng ta nên tránh hai trường hợp sau đây kẻo bị sa vào chủ nghĩa cực đoan.
Phái cực nội (hướng nội thái quá) chủ trương vạn vật, vạn sự do tâm tạo, không chấp nhận sắc tướng là điều kiện tối cần cho tâm thức. Trái lại, phái cực ngoại (hướng ngoại thái quá) thì duy vật, phủ nhận sự sống trong tâm linh và cho rằng tất cả mọi hình thức đều do vật chất hóa sanh.
Hình dạng và sự sống, vật chất và tinh thần, khí thể và tâm thức, đều là trạng thái liền đôi của Cái Ðó liên kết chặt chẽ và khi biểu hiện thì không khi nào tách biệt ra. Cái Ðó không phải tâm thức hay khí thể mà là cội rễ của cả hai: vật chất và tinh thần.
Triết lý nào chỉ biết có vật chất mà phủ nhận sự sống trong tâm linh thì sẽ vấp phải những vấn đề nan giải. Trái lại, triết lý nào chỉ chú trọng về sự sống thiêng liêng, không chịu hiểu biết vật chất thì sẽ gặp một bức tường kiên cố ngăn cách, không thể vượt qua được.
Giải pháp cuối cùng là tâm thức và khí thể, sự sống và hình dạng, tinh thần và vật chất, là biểu thị nhất thời của hai trạng thái của Hiện Hữu Duy nhất mà chúng ta không thể hiểu biết được, trừ phi trạng thái đó biểu hiện thành:
       a) Tinh thần Căn nguyên (Pratyagatman) –  Bản thể vô tướng –  do đó phát sanh những cái Ta riêng biệt,
       b) Vật chất Căn nguyên (Mulaprakriti) thì phát sanh sắc tướng, tức là những hình dáng có thể trông thấy được.
Khi biến hiện thì Tinh thần Căn nguyên sanh ra bộ ba tâm thức, và Vật chất Căn nguyên sanh ra bộ ba Vật chất, còn nền tảng của Thực tại Duy nhất thì tâm thức hữu vi không thể nào biết rõ. Như đóa hoa không bao giờ hay biết rễ cây đã làm cho nó nẩy nở, mặc dù rễ cây là nguồn sống của hoa; nếu không có rễ thì không khi nào có hoa.
Bản ngã là Người-hiểu-biết, có nhiệm vụ làm phản chiếu lại nó cái Vô ngã. Tỷ như kính ảnh thu nhận ánh sáng do những vật phản chiếu lại và nhờ ánh sáng làm biến đổi thể chất mà nó rọi vào để tạo thành hình ảnh của sự vật. Cũng thế đó, Bản ngã thâu nhận những hình ảnh ở ngoại cảnh. Nhờ tia sáng của Bản ngã Duy nhất rọi vào cảnh vật, rồi cảnh vật ấy phản chiếu trên nhãn cầu của Bản ngã làm phát hiện trên mặt nhãn cầu hình bóng cảnh vật vô ngã. Trong giai đoạn hoạt động đầu tiên của tâm thức Bản ngã không hiểu biết được cảnh vật thực sự, mà chỉ nhận biết hình bóng cảnh vật của vô ngã phản chiếu trên lớp nhạy cảm của nhãn cầu, nghĩa là con người (Bản ngã) nhờ cặp mắt mới nhận biết hình bóng cảnh vật ở ngoại giới.
Bởi vậy, cái Trí là quan năng của Bản ngã, có thể ví như tấm gương soi, đặt trước cảnh vật nào thì thấy trong gương in hình bóng cảnh vật đó. Ðúng ra, chúng ta không khi nào biết được thực thể của chính cảnh vật, mà chỉ biết hình dung của cảnh vật phát hiện từ trong tâm thức của chúng ta, vì cái trí của chúng ta chỉ nhận thức được những phản ảnh của cảnh vật chớ không phải cảnh vật thật sự. Cũng như vậy, cái Trí chỉ hiểu biết được ảo ảnh của ngoại cảnh chớ không thể hiểu biết được thực thể của cảnh vật. Sở dĩ hình ảnh phát hiện ra được là do trợ duyên làm cho Bản ngã nhận thức cảnh vật, sự nhận thức này chỉ phỏng tạo theo cảnh vật.
Tuy nhiên, trong đoạn trước, chúng tôi có dùng từ “phản chiếu” và tấm gương soi để so sánh, thật ra không được chỉnh, vì cảnh tượng ở trong trí là phỏng tạo theo cảnh vật, chớ không phản chiếu. Thể chất của cái Trí chế biến một cảnh vật tương tợ cảnh vật mà cái trí đã thâu nhận được, kế đó Bản ngã phóng tác và sửa đổi lần lần cảnh vật đó cho giống cảnh vật thật ở bên ngoài, rồi gọi là Ta hiểu biết cảnh vật. Thật ra trong trường hợp này, những gì mà Bản ngã nhận thức được chỉ là ảnh tượng do trợ duyên tạo ra chớ không phải cảnh vật thật sự. Vả lại, ảnh tượng đó không phải là một phóng tác y hệt cảnh thật, vì lý do riêng, chúng tôi sẽ đề cập vấn đề này nơi chương khác.
Có người hỏi: Nếu vậy thì chúng ta không thể nào biết được cảnh vật thật sự hay sao ? Cái thấy sai lầm này còn kéo dài mãi không ?
Ðiều đó làm cho chúng ta nhận thấy có sự biến chuyển khác biệt giữa tâm thức và vật chất. Sở dĩ  tâm thức hoạt động được là do vật chất. Có như thế mới tìm được lời giải đáp cho câu chất vấn tự nhiên trên đây theo trí tuệ của mọi người. Khi Bản ngã tiến hóa cao thì tự nhiên quyền năng phát triển, do đó Bản ngã có thể tạo lại trong trí tất cả những gì ở ngoại giới. Cái lớp vỏ vật chất bao bọc cái trí mà trước kia Bản ngã dùng hoạt động thì bây giờ tan rã. Lúc này tâm thức nhận thấy rằng Bản ngã của nó và các Bản ngã khác đang cùng nhau tiến hóa vốn là đồng nhất, vì vậy Bản ngã chỉ xem Vô ngã như vật chất do nhiều Bản ngã riêng biệt kết hợp lại mà thôi. Ðó là “Ðại Nhật, Hãy ở với chúng tôi”[2]. Ðó là sự hiệp nhất, là sự vinh quang của cuộc tiến hóa, lúc ấy tâm thức tự biết mình và biết những tâm thức khác cũng như mình vậy. Hòa đồng với vạn vật là hiểu biết thông suốt, Bản ngã nhập vào trạng thái vi diệu là đồng nhất, bất hoại, ký ức không mất, sự chia rẽ cáo chung và người-hiểu-biết, vật-được-hiểu-biết, sự-hiểu-biết chỉ là Một.
Hiện thời, trí thức là đặc tính kỳ diệu của Bản ngã đang tiến triển do sự hiểu biết, vậy chúng ta cần phải nghiên cứu để nhận thức bản tính của tư tưởng đặng thấy rõ vọng tưởng, ngõ hầu có thể dùng vọng tưởng để đả phá vọng tưởng, Vì thế, chúng ta phải học hỏi, tìm hiểu tại sao sự liên lạc giữa Người-hiểu-biết và Cái-được-biết lại sanh ra Sự-hiểu-biết. Ðiều này sẽ làm cho chúng ta nhận thấy rõ ràng hơn về bản chất của tư tưởng.  

SỰ LIÊN QUAN GIỮA NGƯỜI-HIỂU-BIẾT,VẬT-ÐƯỢC-BIẾT VÀ SỰ-HIỂU-BIẾT.
Rung động là một từ đã được các Triết gia Ðông phương khởi xướng từ ngàn xưa, mãi tới ngày nay từ này mới trở thành điểm then chốt cho khoa học Tây phương. Sự vận động là căn nguyên của tất cả vạn vật, Sự sống vận động, Tâm thức vận động. Khi sự vận động ảnh hưởng đến vật chất thì gọi là sự dao động, nói cho dễ hiểu hơn là rung động. Ðơn nhất, Toàn thể, là bất di bất dịch… Cái Ðơn nhất dầu động hay tịnh, cũng là Ðơn nhất tuyệt đối, không có sự luân chuyển trong Ðơn nhất tương đối. Chỉ khi nào có sự sai biệt, hoặc sự chênh lệch từng phần thì chúng mới có thể nghĩ đến cái mà chúng ta gọi là động. Ðộng chỉ là một sự thay đổi vị trí trong một khoảng thời gian liên tục. Khi Ðơn nhất hóa thành muôn vàn thì phát sanh vận động, nếu sự vận động điều hòa thì chúng sanh mạnh khỏe, có ý thức và sinh sống, trái lại, nếu sự vận động không điều hòa thì sanh bệnh tật, vô ý thức và diệt vong. Sinh tử, tử sinh là chị em sinh đôi, giống như sự vận động biểu hiện.
Khi Nhất bổn biến thành Vạn thù thì sự vận động đương nhiên xuất hiện, cái Hiện diện khắp nơi tức Vô sở bất tại (chỗ nào cũng có) xuất hiện trong nhiều phần tử riêng biệt, sự vận động không ngừng tiêu biểu cho cái Hiện diện khắp nơi. Nói một cách khác, cái Hiện diện khắp nơi biểu hiện ra phản ảnh hay hình ảnh trong vật chất. Bản chất của vật chất là phân ly, cũng như bản chất của Tinh thần là Duy nhất. Khi Một sinh Hai –  như trong sữa có ván sữa –  thì phản ảnh của cái Hiện diện khắp nơi là Một trong muôn vàn vật chất đang sinh hóa không ngừng trong sự vận hành vô cùng vô tận.
Sự chuyển động tuyệt đối –  mỗi đơn vị đều vận hành trong một điểm hư  không nơi mỗi sát na [3]  cũng đồng nhất với yên tĩnh, nhưng chỉ đồng nhất theo quan điểm đối với vật chất, chớ không đồng nhất đối với tâm linh. Về phương diện tâm linh chỉ có Một, nhưng về phương diện vật chất thì biến đổi thiên hình vạn trạng.
Cái chuyển động vô tận này xuất hiện dưới hình thức vận hành, nó rung động nhịp nhàng trong vật chất và biểu hiện trong mỗi “Một đơn vị tâm thức riêng biệt” gọi là Jiva[4]. Jiva này phân cách với Jiva khác như bị cô lập do một tấm vách tường vật chất ngăn cản. Khi luân hồi, mỗi Jiva đều mặc trang phục vật chất[5]  khác nhau. Khi trang phục vật chất này rung động thì nó truyền sự rung động đến vật chất ở xung quanh, rồi vật chất ấy tiếp chuyển sự rung động đó lan tràn ra ngoài và truyền tới trang phục bao bọc một Jiva khác và xung kích Jiva này như Jiva đầu tiên.
Trong loạt rung động này –  khởi đầu từ một Jiva mang một xác thân rung động và truyền sự rung động lan tràn đến Jiva khác cũng có xác thân làm thành sự rung động tương tục để xác thân này có thể tiếp xúc với xác thân khác. Xác thân sau hiểu biết được xác thân trước để rút kinh nghiệm. Dầu sao cũng có một vài sự khác biệt, là khi Jiva thứ nhì tiếp được sự rung động của Jiva thứ nhất thì nó rung động, nhưng không phải chỉ lập lại động tác rung động đó mà nó phối hợp sự rung động đầu tiên của nó với sự rung động bị ràng buộc ở ngoại cảnh, vì thế nó không tạo được một hình ảnh giống như thật được, mà chỉ phóng tác một hình ảnh tương tự, càng lâu càng rõ thêm, bởi vì một khi xác thân còn tồn tại thì con người không thể nhận thức được sự gì chính xác và chân thật cả.
Những sự rung động liên tục này thường xảy ra luôn nơi trần thế. Như một ngọn lửa là trung tâm tạo tác của sức nóng trong dĩ thái[6] gọi là nhiệt khí, sự rung động nhiệt khí gọi là làn sóng nóng hay là nhiệt ba. Nhiệt ba truyền qua lớp dĩ thái chung quanh, tỷ như gần đó có một thoi sắt thì làn sóng này rung động truyền sang qua những phân tử li ti của thoi sắt làm cho thoi sắt rung động cùng nhịp rồi thì thoi sắt trở nên nóng và trở nên nơi phát nguồn nhiệt lực. Cũng như vậy, các loại rung động di chuyển từ Jiva này đến Jiva khác và tất cả sinh vật liên kết với nhau đều do mạng lưới ý thức này.
Bởi đó cho nên, trong cõi hữu hình có nhiều loại rung động như: tia sáng, sức nóng, điện khí, âm thanh, v.v... tất cả đồng tính chất và cùng theo phương thức chuyển động trong dĩ thái, nhưng đặc tính và tốc độ của các làn sóng thì khác nhau.
Nhận thức, Ý muốn và Hành động biểu dương sự “hiểu biết, ý chí và động tác” xuyên qua bản thể, cả thảy cùng đồng chung một tính, nghĩa là đều do sự rung động cấu tạo và tùy thuộc đặc tính rung động mà phát sinh những hiện tượng khác nhau.
Vài loại rung động khác biệt có đặc tính riêng trong vật chất như: “rung động tư tưởng”, “rung động dục vọng” và “rung động hành vi”, những từ này dùng diễn tả vài sự kiện của vạn vật. Có vài loại dĩ thái rung động cảm nhiễm nhãn quan, chúng ta gọi là “ánh sáng”, có thứ dĩ thái khác có sự rung động tinh vi hơn, chỉ có cái trí mới cảm nhận được gọi là “tư tưởng”. Hiện thời chúng ta đang bị một vật chất có nhiều mật độ riêng biệt, bao bọc xung quanh, phát ra sự rung động dễ cảm nhiễm chúng ta và những nhãn quan khác nhau thuộc về những thể xác thô trược hay những thể xác tinh khiết của chúng ta đáp ứng lại. Sự rung động cảm nhiễm đến mắt gọi là “ánh sáng”, sự rung động cảm nhiễm đến cái trí gọi là “tư tưởng”. Khi làn sóng “dĩ thái ánh sáng” rung động phát sanh từ một cảnh vật đến mắt chúng ta gọi là “nhìn thấy”, còn khi làn sóng “dĩ thái tư tưởng” rung động phát sanh giữa cảnh vật và trí não của chúng ta thì gọi là “ý nghĩ”. Trong hai điều này không có điều nào huyền bí nhiều hay ít hơn điều kia.
Bàn về cái trí, chúng ta nhận thấy rằng sự giao tiếp của làn sóng tư tưởng làm thay đổi cơ cấu của những nguyên tố, còn khi nghĩ đến vật cụ thể thì chúng ta lại có cảm giác như trước kia đã kinh nghiệm những ấn tượng đó ở ngoại cảnh. Bản ngã có dịp tác động sự rung chuyển và tất cả những gì có thể đáp ứng được, đều tạo thành sự hiểu biết.
Tư tưởng là sự phóng tạo trong trí của Người-hiểu-biết và những gì Ðược-hiểu-biết. Nói theo nghĩa đen, đó là một bức tranh do các làn sóng rung động phối hợp lại tạo thành hình ảnh.
Khi một phần của Vô ngã rung động, thì Bản ngã tiếp nhận sự rung động đó rồi rung động trở lại, thì phần Vô ngã ấy trở thành vật Ðược-hiểu-biết. Giữa các vật chất có ít nhiều sự rung cảm thì sự va chạm vật này với vật kia đều có thể sanh ra Sự-hiểu-biết. Vì thế mà sự liên quan giữa Người-hiểu-biết, Vật-được-hiểu-biết và Sự-hiểu-biết luôn luôn giữ vững và tồn tại mãi mãi.


Còn tiếp....

www.xaydung360.vn XÂY TÂM, DỰNG TẦM CHUYÊN NGHIỆP

4#
taoteching Đăng lúc 25/2/2012 21:30 | Chỉ xem của tác giả

www.xaydung360.vn XÂY TÂM, DỰNG TẦM CHUYÊN NGHIỆP

5#
 Tác giả| fubi Đăng lúc 26/2/2012 13:02 | Chỉ xem của tác giả
Trả lời fubi Bài mới

CHƯƠNG  HAI

KẺ SÁNG TẠO ẢO TƯỞNG
“Có thản nhiên trước cảnh vật đã nhìn thấy thì môn sinh mới khám phá được Chủ tể của Giác quan, là kẻ Sáng tạo Tư tưởng và làm phát hiện ảo tưởng.
Cái Trí là kẻ phá hoại lớn nhất của Thực Tại”.
Ðó là đoạn văn mà Bà H.B.Blavatsky trích dịch trong quyển Kim Huấn Thư, một áng văn kiệt tác và cũng là món quà quí giá của tác giả đã lưu truyền cho hậu thế.
Thật ra không còn từ nào khác dùng để diễn tả ý nghĩa cái Trí cho rốt ráo bằng câu: “Cái Trí là kẻ sinh ra ảo tưởng”.
Cái Trí không phải là Bản ngã hiểu biết, vì vậy chúng ta cần phải luôn luôn thận trọng để phân biệt cho rõ rệt. Có nhiều sự lầm lẫn chẳng những gây sự khó khăn mà còn làm cho học giả rối trí thêm là tại có lắm người không chịu để ý đến sự khác biệt giữa Bản ngả hiểu biết và cái Trí là quan năng dùng để tiếp nhận sự hiểu biết. Nhận lầm cái Trí là Bản ngã hiểu biết thì chẳng khác nào ta lầm tưởng cái đục của ông thợ chạm là ông thợ chạm.
Mỗi Bản ngã đều có hai cái Trí căn bản, nói đúng hơn, là hai thể Trí: Một thể Trí cấu tạo bằng lớp vật chất tinh vi gọi là Thượng Trí [7] và manas , Trí trừu tượng; và một thể Trí khác nữa làm bằng vật chất rất thô sơ gọi là Hạ Trí [8] và manas , Trí cụ thể. Cái Trí tự nó phản chiếu trong vật chất nguyên tử của trạng thái Bản ngã tiêu biểu cho sự Hiểu biết. Cái Trí này thường hay hạn chế Jiva[9], vì vậy khi lý trí tâm thức gia tăng chừng nào thì càng làm trở ngại Jiva nhiều thêm chừng nấy theo đủ mọi cách. Giả như một người nào làm công việc gì mà bị bắt buộc phải mang bao tay dày cộm thì cảm thấy đôi tay bị bó rọ, gây trở ngại mọi hoạt động. Trong khi sờ mó vật gì, đôi bàn tay của y mất hết xúc giác, chẳng còn khéo tay và lanh lẹ như trước, y không thể nhặt món gì nhỏ bé, chỉ cầm được những vật to lớn một cách vụng về. Cũng như vậy, khi Bản ngã mang thêm Hạ trí, các quan năng của Bản ngã đều bị kếm chế, không tự do phát huy khả năng được.
Trong đoạn tới, chúng tôi sẽ giải thích thêm về “Cái Trí cụ thể” tức là hạ trí hợp với manas.
“Trí” là kết quả do ý niệm của kiếp trước và hằng bị ý niệm trong kiếp này thay đổi luôn. Có một điều chắc chắn không thay đổi là, bất cứ khả năng nào, dù mạnh dù yếu, thảy đều do nghiệp quả của những hành vi trong tiền kiếp.
Cái trí của chúng ta đã tạo nên kết quả thì không thể sửa đổi được liền trong nhất thời, mà phải sửa đổi lần lần, chúng ta không thể dùng ý chí cương quyết mà vượt qua được, cũng không thể ném nó qua một bên, mà cũng không thể cấp tốc loại trừ những bất hảo của kết quả. Trí nào thì quả nấy. Trí là thành phần của Vô ngã tạo ra để chúng ta trọn quyền sử dụng, và cũng nhờ Vô ngã, chúng ta mới hiểu biết, phân biệt được.
Do kết quả của kiếp trước nên ngày nay chúng ta mới có những ý niệm trong trí. Mỗi cái trí đều có cách thức rung động riêng và rung động không ngừng, tạo thành bức tranh sống động thay đổi liên tục. Mỗi ấn tượng hoạt động từ ngoại cảnh do nhãn cầu thu nhận và khối rung động đang có sẵn, sửa đổi khối rung động mới đến, đồng thời cũng bị khối rung động mới đến biến đổi nữa. Vì vậy, thành quả không do nơi sự phỏng tạo chính xác của khối rung động mới, mà do sự phối hợp giữa các rung động mới và các rung động đã có sẵn.
Thêm một thí dụ về ánh sáng: nếu chúng ta đặt một tấm kính màu đỏ trước mắt, rồi nhìn vào một cảnh vật có màu xanh lục, thì cảnh vật đó trở thành đen. Những rung động làm cho chúng ta cảm thấy sắc đỏ bị sự rung động của màu xanh lục ngăn lại, vì thế chúng ta thấy lầm cảnh vật màu xanh lục là màu đen. Cũng như vậy, nếu chúng ta nhìn vào cảnh vật có màu xanh da trời với kính màu vàng, thì cảnh vật đó cũng trở nên đen. Thành thử khi có hai màu sắc khác nữa, gọi là màu trung gian, ấn tượng này làm chúng ta có cảm giác như cảnh vật đổi màu, khác hẳn màu mà chúng ta đã thấy bằng mắt thường. Nhưng dầu chúng ta có thấy được bằng mắt thường, thì cũng chỉ thấy hơi khác hơn, vì khi mắt thu cảnh vật, tự nó sửa đổi sự rung động ấy với tốc độ mau lẹ quá sức tưởng tượng. Cái trí bị ảnh hưởng do sự trung gian giữa kính màu và cảnh vật, và đã làm cho cảnh vật ấy thay đổi màu sắc. Bản ngã không ý thức được ảnh hưởng của cái trí, cũng như một người chưa hề có cơ hội thấy, cũng không ý thức được cảnh vật thay đổi màu sắc, ngoại trừ sự nhìn thấy xuyên qua kính có màu xanh hay đỏ.
Khi chúng ta nói: “Cái Trí là kẻ sinh ra ảo tưởng”, theo ý nghĩa thông thường là cái trí có thể cho chúng ta biết hình ảnh sai lệch do sự phối hợp của cái trí với ngoại cảnh. Thật ra câu trên đây còn có ý nghĩa khác cao siêu và sâu  sắc hơn nhiều. Câu “Cái Trí là kẻ sinh ra ảo tưởng” có dụng ý chỉ cho chúng ta hiểu biết hình ảnh sai lệch đó là hình bóng ở ngoại cảnh chớ không phải là hình ảnh thật, nó chỉ là hình bóng của cái bóng do trí ta tạo ra. Bấy nhiêu đây cũng đủ cho chúng ta nhận thức về ảo ảnh do bản tính sáng tạo.
****
Nếu chúng ta hiểu biết thực trạng của thế giới, quan niệm của chúng ta sẽ thay đổi hẳn, vì từ nhỏ đến khôn lớn, chúng ta chỉ quen tánh hiểu biết thế giới bằng sự rung động sửa đổi của thể trí trong phạm vi sắc tướng. Ðiều này không phải không thể nhận thức được, mặc dù những người nhận thức được toàn là những người đã làm chủ được tư tưởng và tiến hóa cao. Nếu tâm không vọng động thì sự rung động của thể trí cũng ngưng hoạt động, cảnh vật bị tiếp xúc tạo ra một hình ảnh giống như cảnh thật, sự rung động về phẩm và lượng đều tương đương, không rung động với rung động của kẻ bàng quan. Hoặc giả tâm thức tự phóng ra ngoài và làm sống động cảnh vật khách quan để nó có thể trực tiếp cảm nhận những sự rung động. Có hai trường hợp để chúng ta nhận thức được thật sự của hình tướng.
1- Ý niệm trong cảnh giới thực tại mà sắc tướng tiêu biểu trạng thái hữu hình có thể hiểu biết được bằng tâm thức hoạt động trong Thượng trí mà không bị cái Trí cụ thể hay những thể thấp khác làm trở ngại.
2- Sự thật cho chúng ta biết rằng các sự vật đều do ấn tượng của chúng ta, chớ tự ta không thể biết được thực thể của sự vật –  ngoại trừ trường hợp trên - đó là điều quan trọng khi chúng ta áp dụng chơn lý này vào đời sống thực tế.              
Chơn lý dạy chúng ta phải khiêm tốn, thận trọng và lắng tai nghe những ý tưởng mới. Chúng ta cần phải diệt trừ tánh hay quả quyết rằng tất cả những gì chúng ta thấy đều đúng cả. Chúng ta hãy tập xét đoán chúng ta trước, rồi sẽ xét kẻ khác.
Sau đây là một thí dụ để làm sáng tỏ vấn đề:
     Tôi gặp một người có cách thức rung động có thể bổ túc cho sự rung động của tôi. Khi gặp nhau, chúng tôi không thích vì không hạp nhau. Giữa chúng tôi, không thấy có điều chi khác biệt, nhưng cả hai chúng tôi đều ngạc nhiên không hiểu tại sao ông A nào đó khen người mà chúng tôi chê dốt là thông minh, bởi vì chúng tôi chê bai lẫn nhau, người này nói người kia đần độn, người kia nói người này ngu ngốc. Song le, nếu tôi tự hiểu biết mình một chút, ắt không còn thắc mắc nữa. Thay vì tưởng nghĩ người ấy đần độn, tôi tự hỏi: Phải chăng tôi có điều chi sơ sót nên không thể đáp ứng sự rung động của người ấy ? Cả hai chúng tôi đều rung động, song nếu tôi không nhận thức được quan niệm và sự hoạt động của người ấy, là vì tại tôi không đáp ứng lại sự rung động của y. Tại sao tôi xét đoán người ấy ? Là bởi vì tôi không hiểu người ấy trước khi tôi tự sửa đổi cho đầy đủ để có khả năng tiếp nhận y.
Chúng ta không thể sửa đổi kẻ khác, nhưng ít ra chúng ta có thể tự sửa đổi ta, là cố gắng không ngừng để làm phát triển khả năng cảm ứng của chúng ta. Chúng ta phải trở thành ánh sáng trong suốt, hiển lộ trong các màu sắc, chẳng những không làm cho màu sắc hoen ố, mà làm cho màu sắc nổi bật và tươi thắm thêm. Chúng ta có thể đo khoảng cách giữa chúng ta và ánh sáng trắng trong suốt bằng cách dùng năng lực của chúng ta để đáp ứng lại các đặc tính khác nhau.
(còn nữa)

www.xaydung360.vn XÂY TÂM, DỰNG TẦM CHUYÊN NGHIỆP

6#
 Tác giả| fubi Đăng lúc 26/2/2012 13:04 | Chỉ xem của tác giả
Trả lời fubi Bài mới

HẠ TRÍ VÀ MANAS (MẠT NA THỨC)
     
Bây giờ chúng ta có thể xem xét cách cấu tạo thể trí hay Trí cụ thể là quan năng của tâm thức theo trạng thái Người hiểu biết  hầu tìm hiểu sự cấu tạo này ra sao, và bằng cách nào chúng ta đã đào tạo cái trí trong dĩ vãng và tìm biện pháp sửa đổi nó trong hiện tại.
Xét về phương diện sự sống thì tinh thần là manas. Manas là trạng thái nhận thức của Bản ngã phản chiếu trong vật chất nguyên tử của cõi thứ ba gọi là Cõi Trí[10].
Xét về phương diện sắc tướng (hình dạng) thì manas có hai trạng thái riêng, mỗi trạng thái hoạt động theo điều kiện khác nhau do nơi tâm thức sử dụng manas  ở Cõi Trí. Hai trạng thái này do hợp chất của vật chất ở cõi trí bị thu hút vào chung quanh trung tâm rung động thuộc nguyên tử của cõi trí. Vật chất này tùy theo bản tính và cách dùng của tâm thức gọi là “chất liệu trí tuệ” hay “chất liệu tư tưởng”. Vật chất ấy tạo thành một vùng rộng lớn trong vũ trụ, thâm nhập vào chất thanh khí ở cõi Trung giới và chất Hồng trần ở thế gian. Các vật chất ấy tràn ngập trong bảy cảnh giống như trạng thái vật chất ở hồng trần. Những chất này rất nhạy cảm đối với sự rung động của trạng thái Bản ngã là sự hiểu biết, và trạng thái này ấn định cho nó đặc tính riêng.
Trạng thái thứ nhất –  cao hơn hết của cái trí –  là Thượng trí (Nhân thể). Thượng trí gồm có vật chất từ cảnh thứ năm và thứ sáu của cõi Trí, tương ứng những chất dĩ thái tinh vi hơn hết ở cõi Trần. Trong giai đoạn tiến hóa hiện tại thể Thượng trí này ở đa số có đôi chút phát triển, vì Thượng trí không dùng để suy luận những sự việc ở cõi Trần. Vậy ngay bây giờ, chúng ta nên tạm gác vấn đề Thượng trí qua một bên. Tóm lại, Thượng trí là quan năng của Trí trừu tượng.
Trạng thái thứ nhì, là thể trí, cũng gọi là Hạ trí. Nó gồm chất tư tưởng của bốn cảnh thấp hơn hết ở cõi trí, tương ứng với chất dĩ thái thấp nhất ở cõi Trần  trong trạng thái chất hơi, chất lỏng và chất đặc. Nó có thể gọi là thể trí dày đặc. Thể này chia làm bảy loại căn bản lớn, mỗi loại gồm nhiều hình thức và tùy trình độ phát triển khác nhau, nhưng tất cả đều tiến hóa theo định luật chung. Hiểu biết và áp dụng được những định luật này, tức là ta đem sự tiến hóa chậm chạp của thiên nhiên để đổi lấy sự tiến hóa mau lẹ do khiếu thông của người tự quyết định. Ðó là điểm quan trọng của sự khảo cứu về thể trí.
RÈN LUYỆN VÀ NÂNG CAO THỂ TRÍ
      
Ðiều chúng ta cần phải hiểu là do phương pháp nào mà tâm thức rèn luyện được thể trí, vì trong đời sống hằng ngày hằng giờ, chúng ta đều có cơ hội áp dụng phương pháp ấy cho mục đích cao thượng. Dù trong khi thức hay ngủ, chúng ta vẫn luôn luôn đào luyện thể trí của chúng ta. Khi tâm thức rung động, thì nó cảm nhiễm chất thượng thanh khí hay chất tư tưởng ở chung quanh, một ý nghĩ vừa thoáng qua, cũng đủ cho nó thu hút vài phân tử của chất tư tưởng, rồi phóng ra ngoài vài phân tử khác. Về phần thể xác do Bản ngã mượn dùng tạm ở cõi trần cũng do sự rung động, nhưng đừng quên rằng yếu tính của tâm thức luôn luôn nhìn nhận chính nó là Vô ngã. Ðó là vì tâm thức bao gồm hai chiều hướng tương phản nhau, cho nên khi thì tâm thức chấp nhận “Tôi là thế này”, khi lại phủ nhận “Tôi không phải là thế này”. Do đó tâm thức vận chuyển trong vật chất tạo thành sự hút vào rồi đẩy ra mà chúng ta gọi là rung động. Khi vật chất chung quanh bị tâm thức rung động, vật chất ấy liền truyền sự rung động đó ra để cảm nhiễm tâm thức khác.
Thế thì các vật chất, dù tinh khiết hay thô sơ, đều tùy thuộc tính chất rung động do tâm thức phát sinh. Các tư tưởng trong sạch và thanh cao gồm những rung động mau lẹ, chỉ cảm nhiễm các chất tinh vi của thể trí, còn những chất thô trược thì không cảm nhiễm, vì không rung động đồng nhịp với chất tinh vi được. Khi một ý tưởng cao đẹp rung động, các chất thô trược đều bị loại ra ngoài, đồng thời thay thế những chất tinh khiết vào để rèn luyện thể trí trong sạch. Trái lại, những tư tưởng xấu xa, đê hèn rất dễ thu hút các chất thô trược vào thể trí hạ tiện, đồng thời xua đuổi các chất tinh khiết ra ngoài.
Ðặc tính rung động của tâm thức là luôn luôn sa thải chất cũ rồi đem chất mới thay vào để rèn luyện thể trí. Vì thế, mỗi hành động hay ý niệm vừa phát khởi đều gây nên hậu quả; như khi xưa chúng ta có những hành vi hay tư tưởng lành dữ thế nào thì ngày nay những hành vi hay tư tưởng đó đáp ứng lại cho chúng ta y như thế.
Nếu thể trí của chúng ta cấu tạo bằng chất tinh khiết thì ý tưởng xấu xa đê hèn không cảm ứng thể trí của chúng ta, nhược bằng, thể trí của chúng ta cấu tạo bằng chất thô trược, thì chất đó dễ cảm nhiễm những ý tưởng thoảng qua thấp hèn, mà không thể cảm nhiễm những ý tưởng tốt lành được.
Khi chúng ta tiếp xúc với một vị đạo hạnh có tư tưởng thanh cao, những rung động tư tưởng của vị ấy có năng lực khêu gợi nhịp rung động trong thể trí của chúng ta gia tăng tốc độ để có thể cảm ứng sự rung động tư tưởng của vị đó. Sự rung động này có công năng bài tiết lần lần những chất ô trược trong thể trí để sự rung động tư tưởng của chúng ta tăng thêm đến mức độ cao. Những lợi ích mà chúng ta nhận lãnh của các vị đạo đức phần lớn là do nơi ý tưởng của chúng ta đã có từ suy nghĩ  đã qua. Sở dĩ ngày nay chúng ta có mối thông cảm với các vị ấy là do nghiệp quả quá khứ.
Chúng ta không thể tư tưởng dùm người này hay người kia, song ta chỉ có thể suy nghĩ những tư tưởng của chính ta mà thôi. Như vậy, ta tạo ra sự rung động tương ứng trong chất tư tưởng ở chung quanh chúng ta, sự rung động này có khả năng làm phát khởi những rung động đồng tính trong thể trí để tiêm nhiễm tâm thức của chúng ta.
Tuy nhiên, không phải mỗi lần ở ngoại cảnh phát sinh rung động thì chúng ta cảm biết và hiểu liền được. Sự kiện này thường giống như sức nóng mặt trời và nước mưa thấm vào đất cát có ảnh hưởng đến hạt giống vùi dưới lớp đất. Ðầu tiên, không thể biết được sự rung động cảm ứng đến hạt giống, nhưng chắc chắn đã có sự sống rung động yếu ớt ở bên trong hạt giống. Sự rung chuyển này ngày càng trở nên mạnh cho đến khi mầm mống đủ sức phát triển làm hạt giống nứt mộng, đâm chồi và mọc rễ. Về phương diện tâm linh cũng như vậy, từ bên trong tâm thức, trước khi cảm ứng, đã có sự rung chuyển yếu ớt do sự tiếp xúc với ngoại cảnh. Trong khi chúng ta chưa có thể hiểu nổi một vị có tư tưởng cao siêu thì tiềm thức của chúng ta đã cảm ứng được phần nào rồi. Vì thế, khi chúng ta xa lìa ảnh hưởng của Ðấng Cao Cả, là chúng ta đã nhận được một ít sự phong phú của đời sống tâm linh nhiều hơn khi trước, để các chủng tử tư tưởng của chúng ta nảy nở mau lẹ và cũng để cho tinh thần chúng ta được tiến hóa dễ dàng hơn.
Bởi vậy, trong việc rèn luyện trí não, không những do hoàn cảnh bên ngoài mà còn phải tùy thuộc sự hoạt động từ trong tâm thức nữa. Nếu muốn thể trí được mạnh mẽ, minh mẫn, tích cực để có thể lãnh hội những tư tưởng cao siêu, chúng ta phải nỗ lực học tập, suy tư cho đúng đắn, vì chính ta mới là kẻ rèn luyện và uốn nắn  trí não của ta mà thôi.
Nhiều người nghĩ rằng hễ đọc nhiều sách là có thể rèn luyện được trí não, sự thật không phải như vậy. Chỉ có tư tưởng mới rèn luyện được trí não mà thôi. Chúng ta phải xem sự đọc sách như một công việc sưu tầm tài liệu để cung cấp cho tư tưởng, như thế sự đọc sách mới hữu ích. Người ta có thể đọc nhiều sách, song trí não phát triển chỉ tương đương với tất cả sự suy nghĩ mà họ đã dùng trong việc đọc. Nếu độc giả không thu nhặt được một vài ý tưởng hay để trao dồi trí não mình thì giá trị về sự hiểu biết của kẻ ấy rất nông cạn và mau phai lạt.
Lord Bacon nói: Ðọc thì no trí. Ðiều này rất đúng về phương diện tinh thần, cũng như về mặt vật chất người ta nói: Ăn thì no bụng. Nếu thức ăn không hạp, khó tiêu hóa, thì ích lợi gì cho xác thân. Về tinh thần cũng vậy, nếu dồn ép sự đọc sách cho đầy trí óc mà không chịu để tâm suy nghĩ, không đồng hóa được với những gì đã đọc thì ích lợi gì cho trí não. Ý tưởng chồng chất đầy đầu óc, nhưng không tiêu thụ nổi, thì chẳng những trí não không mở mang, mà còn suy giảm là khác nữa. Như kẻ ăn nhiều mà không tiêu thì mang thêm bệnh vì bội thực.
Muốn tinh thần sáng suốt, trí não mở mang, chúng ta phải đọc ít mà suy nghĩ nhiều. Nếu thật lòng chúng ta muốn rèn luyện tinh thần, chúng ta phải dành riêng mỗi ngày một giờ để nghiên cứu một quyển sách nào đứng đắn và cao hơn trình độ ta hiểu biết một chút. Chúng ta đọc chừng năm phút, nhưng phải suy nghĩ mười phút, và nên tiếp tục như vậy trong một tiếng đồng hồ. Theo thế thường nhiều người hay đọc lia lịa trong một giờ rồi dẹp sách qua một chỗ, đợi tới ngày sau lấy sách ra đọc tiếp. Như vậy, phần nhiều quan năng tư tưởng của người ấy tiến rất chậm.
Một điểm đặc biệt nhất là có nhiều người nhận thấy trí não các hội viên của phong trào Thông Thiên Học mỗi năm đều mở mang thêm. Ðiều này chứng tỏ một phần lớn các hội viên đó đã được giảng giải minh bạch về bản chất của tư tưởng. Nhờ vậy hội viên bắt đầu hiểu lần lần, rồi áp dụng một vài phương pháp đã lãnh hội để rèn luyện thể trí thay vì để cho thể trí phát triển chậm chạp theo quá trình của định luật tự nhiên. Muốn mau tiến, độc giả phải cố gắng dành riêng ít nhất năm phút để đọc và mười phút suy nghĩ để tìm hiểu những điều mình đã đọc và đừng bỏ qua một ngày nào không đọc sách.
Lúc ban đầu độc giả cảm thấy sự cố gắng rất buồn chán và mệt nhọc, lại nữa sẽ khám phá ra năng lực suy nghĩ của mình cũng yếu ớt.
Ðó là bước đầu và cũng thường thấy rất ít người có thể cầm trí suy tưởng lâu mà không gián đoạn được. Kẻ nào không thể suy nghĩ mà tưởng mình có thể suy nghĩ thì kẻ ấy tiến rất chậm. Thà mình yếu mà tự biết mình yếu, còn hơn là mình yếu mà cứ tưởng mình mạnh.
Sau khi cố gắng đeo đuổi khá lâu về một ý tưởng khó khăn, sau cùng không thể chú ý được nữa, độc giả cảm thấy nóng bức, rối loạn, đầu óc mệt nhọc. Công việc này giống như khi ta rán sức tập luyện các bắp thịt trong một lúc lâu, thì ta cảm thấy thân thể bải hoải và mệt mỏi vậy.
Nhờ công phu luyện tập bền bỉ và đều đặn –  nhưng đừng khi nào quá độ –  thì sức mạnh tư tưởng phát triển y như sức lực của các bắp thịt. Một khi sức mạnh tư tưởng phát triển, ta càng dễ kiểm soát tư tưởng và sử dụng nó trong những mục đích chơn chánh.
Người không biết tư tưởng, thể trí như mất định hướng và vô tổ chức. Nếu không biết tập trung tư tưởng –  nghĩa là không biết chủ định sức mạnh tư tưởng vào một điểm đã chọn –  thì ta không thể thi thố được chút nào về quyền năng tư tưởng cả.

(còn nữa..)

Đánh giá

Tuyệt vời! Cảm ơn!: 5.0
Tuyệt vời! Cảm ơn!: 5
Không hiểu lắm...:(  Đăng lúc 27/2/2012 09:44

www.xaydung360.vn XÂY TÂM, DỰNG TẦM CHUYÊN NGHIỆP

7#
tieuphuthuy Đăng lúc 27/2/2012 21:30 | Chỉ xem của tác giả
E rất khâm phục a fubi vì a có tâm và có chuyên môn rất tốt,hiếm người như vậy.
E nghĩ có 1 môn khoa học còn huyền bí hơn nữa kìa,chưa chắn những vị bên thông thiên học kia làm đc nữa đấy,hihi.

Đánh giá

Cảm ơn bạn đã quan tâm rất nhiều!  Đăng lúc 27/2/2012 22:10
Còn về khoa học mà bạn nói huyền bí hơn thì với mình: đã là huyền bí tức là mình chưa biết rõ cơ chế. Phàm đã chưa biết thì sự huyền bí là ngang nhau mà thôi.   Đăng lúc 27/2/2012 22:09
Rất cảm ơn bạn nghĩ tốt về mình. Tuy nhiên mình vẫn chỉ là người học trò đang mày mò trên con đường "tầm sư học đạo" chuyên môn XD mà thôi.  Đăng lúc 27/2/2012 22:08

www.xaydung360.vn XÂY TÂM, DỰNG TẦM CHUYÊN NGHIỆP

8#
 Tác giả| fubi Đăng lúc 28/2/2012 14:27 | Chỉ xem của tác giả
Trả lời tieuphuthuy Bài mới

CHƯƠNG  BA

CHUYỂN DI TƯ TƯỞNG
     Ngày nay, hầu hết ai cũng muốn thực hành phép chuyển di tư tưởng và ước mơ được diễm phúc tiếp xúc với những bạn thiết của mình hiện đang xa vắng mà khỏi cần liên lạc bằng điện thoại, hoặc điện tín hay thơ từ.
Nhiều người tưởng rằng chỉ gắng công chút đỉnh là có thể biết được phương pháp chuyển di tư tưởng, nhưng họ sẽ ngạc nhiên và thất bại hoàn toàn. Ðiều hiển nhiên là muốn chuyển di tư tưởng, trước hết phải biết tư tưởng. Tư tưởng đó phải hội đủ năng lực cần thiết để có thể phóng ra ngoài không gian một làn sóng thật mạnh. Những tư tưởng bạc nhược lau chau, đều là những rung động lu lờ và chập chờn trong bầu không khí tư tưởng, những rung động đó hiện rồi tan, tan rồi hiện trong mỗi giây phút, sắc thái lờ mờ, yếu ớt, không thành hình dạng rõ ràng. Thật ra, hình thức tư tưởng phải rõ rệt và sống động mới có thể phóng tới một phương hướng nhất định, và cần phải có đủ năng lực để giữ vững sắc thái, thì nó mới có thể tái lập được hình thức tư tưởng khi di chuyển đến nơi đến chốn.
Có hai phương pháp chuyển di tư tưởng: một là phương pháp vật thể, hai là phương pháp tâm linh. Phương pháp vật thể do trí và não, còn phương pháp tâm linh chỉ do tâm trí mà thôi.
Ðầu tiên, tâm thức sinh ra tư tưởng, tạo thành sự rung động trong thể trí, rồi lần đến thể vía, kết thành làn sóng dĩ thái và trong những “phân tử đông đặc” của bộ óc. Sự rung động của não cảm nhiễm dĩ thái, đoạn dĩ thái truyền làn sóng lan rộng ra xa dần, sao cho tới khi gặp bộ não khác để kết thành sự rung động trong dĩ thái cũng như trong những “phân tử đông đặc” của não. Bộ não sau này tiếp thu sự rung động rồi truyền qua thể vía, kế đến thể trí. Tới phiên thể trí rung động để đáp ứng lại, rồi rung động của thể trí cảm nhiễm tâm thức. Như vậy, mỗi tư tưởng đều phải trải qua nhiều giai đoạn như trên theo hình bán nguyệt. Những giai đoạn theo chiều dài hình vòng cầu này không cần thiết, vì tâm thức có thể tạo thành sự rung động trong thể trí rồi trực tiếp hướng dẫn sự rung động đó đến thể trí của tâm thức tiếp thu làn rung động này, như vậy tránh được đường vòng cầu mô tả.
Giờ đây, chúng ta thử xét qua phương pháp chuyển di tư tưởng thứ nhất.
Nơi phía trước và dưới não bộ có một hạch nhỏ bằng trái tùng, gọi là tùng quả tuyến, các nhà sinh lý học Tây phương chưa biết được tác dụng của hạch này và nhà tâm lý học Tây phương cũng không màng quan tâm đến. Tùng quả tuyến là một bộ phận phát triển chậm hơn hết trong cơ thể con người, mặc dù rất chậm chạp, nhưng nó cứ tuần tự phát triển mãi. Mặt khác, chúng ta có thể thúc giục bộ phận này phát triển mau lẹ hơn, bằng cách bắt nó thực hiện phận sự của nó mà trong tương lai nó sẽ hoạt động trong mọi người. Tùng quả tuyến là quan năng dùng để chuyển di tư tưởng, rất cần thiết như mắt để thấy và tai để nghe vậy.
Người nào chủ tâm suy nghĩ về một việc gì và cứ tập trung tư tưởng vào việc đó mãi, thì sẽ cảm giác như ở trong hạch quả tùng có cái gì rung chuyển và rọ rại như kiến bò. Cái rung chuyển đó vốn ở trong dĩ thái thấm nhuần hạch này, sinh ra một luồng từ diện rất yếu ớt và mảnh mai làm ta có cảm giác như có kiến bò trong tế bào của tùng quả tuyến.
Nếu người nào suy tưởng mạnh mẽ, đủ khả năng phát ra một luồng từ điện mạnh thì có thể truyền tư tưởng mình đi đến một nơi khác rất rõ ràng.Sự rung động trong dĩ thái của hạch quả tùng tạo thành làn sóng ở chất dĩ thái chung quanh như làn sóng ánh sáng nhưng rất nhỏ và tốc độ mau hơn. Làn  sóng ấy lan tràn khắp nơi làm cho dĩ thái này rung động, rồi truyền qua dĩ thái khác, và như thế mãi cho tới khi gặp được dĩ thái của tùng quả tuyến trong bộ não khác. Từ đó, nó chuyển sang qua thể vía, rồi đến thể trí, và tiếp tục đều đều chuyển đến tâm thức. Nếu hạch quả tùng thứ hai không tạo lại được làn sóng rung động mà nó đã tiếp nhận, thì tư tưởng sẽ phân tán, không sanh ra được một ấn tượng nào cả, cũng như ánh sáng không làm cho người mù trông thấy sáng.
Phương pháp chuyển di tư tưởng thứ hai là: người tư tưởng tự tạo ở cõi trí một hình tư tưởng, nhưng không truyền sang bộ não, mà trực tiếp truyền cho một người tư tưởng khác ở cõi trí. Kẻ thực hành được điều này tất nhiên phải giàu nghị lực, tư tưởng mạnh mẽ và cao siêu hơn những kẻ dùng trí não chuyển di tư tưởng. Bởi vì người dùng phương pháp này phải tỉnh thức ở cõi trí mới hành động được.
Mỗi người trong chúng ta đều có dùng những quyền năng ấy một cách gián tiếp và vô ý thức, vì theo bản tính tự nhiên, những tư tưởng của chúng ta phát sinh từ thể trí, đều rung động và truyền lan đến các chất thượng thanh khí chung quanh.
Không có lý do nào khác để thu hẹp ý nghĩa của từ chuyển di tư tưởng trong sự cố tâm và dụng ý về sự chuyển di tư tưởng riêng biệt của người này truyền sang cho người khác. Chúng ta thường bị ảnh hưởng với nhau luôn do những làn sóng tư tưởng tạo ra không ý định rõ rệt, và điều mà cái gọi là dư luận quần chúng, một phần lớn thành hình nhờ tư tưởng mà ra, thường quần chúng hay tưởng nghĩ một cách nào đó, chớ không phải suy xét chu đáo một vấn đề rồi đi đến một kết luận. Ðó là vì đa số dân chúng chỉ nghĩ một việc gì rồi lôi cuốn những người khác cùng theo họ.
Một tư tưởng mạnh mẽ của một nhà đại tư tưởng sở dĩ truyền bá được khắp cõi tư tưởng là do một số người hấp thụ tư tưởng này rồi truyền lại làn sóng tư tưởng đầu tiên, và khuếch đại làn sóng đó để kích động những kẻ chưa cảm ứng được làn sóng sơ khởi. Làn sóng ấy cứ tiếp tục tăng cường mãi cho đến khi cảm nhiễm được quảng đại dân chúng. Một khi thành dư luận quần chúng, thì nó có ảnh hưởng lớn lao đối với đại chúng, ảnh hưởng này đập mạnh vào trí óc dân chúng để khêu gợi dân chúng đáp ứng lại những làn sóng mà họ đã thu nhận được. Có vài tư tưởng theo đường lối quốc gia tạo thành những vận hà sâu rộng do sự lập đi lập lại không ngừng trong nhiều thế kỷ một thứ tư tưởng như nhau bởi những cuộc tranh đấu lịch sử và những tập quán của một dân tộc. Những tư tưởng ấy thay đổi sâu xa và tô điểm thêm sắc thái cho thể trí những gì thuộc về dân tộc, và mỗi tư tưởng đó, bất cứ từ đâu đến, đều bị phương thức rung động quốc gia biến đổi.
Những tư tưởng ngoại lai vào trí não chúng  ta, đều bị thể trí của chúng ta thay đổi và khi chúng ta tiếp nhận chúng là chúng đã tiếp nhận những tư tưởng rung động đó với những rung động bình thường của chúng ta. Như thế, chúng ta thâu nhận một loại rung động do sự kết hợp của hai thứ rung động. Vì vậy, các quốc gia lân bang ghi nhận những tư tưởng ngoại lai, đều bị sự rung động dân tộc tính của quốc gia biến đổi.
Do đó, người Anh và người Pháp, hay người Ấn Ðộ và người Phi châu đều thấy rất nhiều sự việc như nhau, nhưng mỗi dân tộc đều thêm thắt những gì họ có từ lâu đời, mặc dầu thành thật, song họ vẫn tố cáo lẫn nhau, dân này nói dân kia ngụy tạo, còn dân kia nói dân nọ hành động phi pháp. Nếu chân lý bất khả kháng này được thành thật nhìn nhận, thì nhiều cuộc tranh chấp quốc tế sẽ được san bằng dễ dàng, những chiến tranh có thể tránh khỏi và những kẻ gây chiến rất dễ dàn xếp ổn thỏa để tránh nạn khói lửa. Ngoài ra, mỗi quốc gia sẽ nhìn nhận cái mà đôi khi họ gọi là bình đẳng cá nhân thay vì khiển trách và đổ lỗi cho nước láng diềng của mình chỉ vì lý do bất đồng ý kiến, mỗi quốc gia cố gắng tìm hiểu ý nghĩa quan điểm dị đồng giữa đôi bên và đừng quốc gia nào ngoan cố giữ mãi thành kiến của mình.
Một câu hỏi thiết thực được nêu ra: đang khi chúng ta sống trong bầu không khí hỗn loạn, tràn ngập những làn sóng tư tưởng xấu xa lẫn tốt đẹp, không ngớt va chạm vào trí óc chúng ta, làm thế nào biết được có bao nhiêu điều lành ta đã hưởng và bao nhiêu điều dữ ta đã tránh ? Phải đề phòng cách nào để tránh những tư tưởng xấu và làm sao thu nhận những tư tưởng tốt ? Ðó là một vấn đề tối quan trọng mà chúng ta cần tìm hiểu để chọn lựa cho đúng.
Thật ra, mỗi người là một cá nhân nên thể trí của chúng ta chịu ảnh hưởng của chúng ta nhiều nhất, còn ảnh hưởng của kẻ khác chỉ thỉnh thoảng cảm nhiễm chút đỉnh thôi. Nghe diễn thuyết hay đọc sách thì thuyết trình viên hay tác giả cũng ảnh hưởng đến cái trí, nhưng đó là sự ngẫu nhiên trong cuộc đời, chính chúng ta mới là yếu tố thường xuyên. Ảnh hưởng của riêng chúng ta đóng góp trong sự kiến tạo thể trí mạnh nhất và nhiều hơn hết, nó do chính chúng ta quyết định thể thức rung động bình thường cho cái trí của chúng ta mà thôi. Tư tưởng nào không hợp với thể thức rung động khi vừa chạm đến thể trí của chúng ta thì liền bị loại ra ngoài. Nếu người nào tưởng đến sự ngay thật, thì sự dối trá không nhiễm vào tâm trí của họ, người nào có tư tưởng bác ái, thì sự oán thù không làm cho họ băn khoăn, kẻ nào nghĩ đến minh triết thì sự ngu dốt không làm họ tê liệt được. Chỉ như thế mới đem lại thực sự an toàn và dũng mãnh. Ðừng để trí ta ở không như mảnh đất hoang, mặc cho những mầm giống tư tưởng nào cũng mọc lên được, vì như vậy trí ta cảm nhiễm tật xấu nhiều hơn tánh tốt.
Ðó là bài học thực tập. Nếu chúng ta hành đúng, thì sẽ mau tìm thấy giá trị của tư tưởng. Chúng ta hãy nhớ rằng chỉ có tư tưởng chân chính mới làm cho đời sống thanh cao, và cũng nhờ minh triết mà chúng ta dứt được đau khổ.

(còn nữa..)



fubi trong 28/2/2012 14:28 đã trả lời thêm:
CHƯƠNG  BỐN
   
NGUỒN GỐC TƯ TƯỞNG

Ngoại trừ giới tâm lý học, không mấy người chịu để tâm tìm hiểu vấn đề do nguồn gốc nào có tư tưởng, hay tư tưởng từ đâu đến ? Vừa xuống cõi trần chúng ta phải mang theo nhiều ý niệm đã có sẵn. Những ý niệm mà chúng ta phải mang theo khi vừa mở mắt chào đời gọi là “Tiên thiên quan niệm”[11]. Ðó là những nghiệp quả cô đúc hay rút ngắn lại do những tư tưởng, hành vi, kinh nghiệm của chúng ta tạo ra từ kiếp trước và phải mang theo trong kiếp này. Hiện nay, chúng ta đang hưởng hay đang trả những nghiệp quả tiền khiên ấy.
Các tâm lý gia không thể quan sát trực tiếp mà hiểu được nguồn gốc tư tưởng. Tuy nhiên, các nhà chuyên môn ấy có thể hiểu được chút ít trong khi quan sát một em bé. Như lúc sơ sinh, xác thân hài nhi phải trải qua một thời kỳ phát triển vật chất mau lẹ trong khi còn là một bào thai, cũng như thể trí mới phải vượt qua mau chóng những giai đoạn tiến triển lâu dài của tiền kiếp. Thật ra, “thể trí” không khi nào giống “tư tưởng”, dù khi nghiên cứu chính thể trí mới, chúng ta cũng chưa tìm được “nguồn gốc tư tưởng”. Ðiều ấy có lẽ đúng hơn nếu chúng ta xét thấy rất ít người có thể nghiên cứu trực tiếp về thể trí song họ có thể gián tiếp quan sát hành vi tạo tác của xác thân bằng trí óc và thần kinh hệ. “Tư tưởng” khác biệt thể trí và xác thân, vì tư tưởng thuộc về tâm thức và sự sống, còn thể trí và xác thân thì thuộc về hình thể và vật chất, cả thảy đều là khí thể trung gian, những phương tiện để dùng tạm nơi cõi trần.
Nơi Chương Hai, chúng tôi có giải thích sự khác biệt giữa Bản ngã và cái Trí, vậy học giả nên nhớ kỹ sự khác biệt này: Bản ngã thì hiểu biết còn cái Trí là cơ năng dùng tiếp nhận sự hiểu biết –  và cũng đã định nghĩa: trí thức là thể trí và manas phối hợp lại.
Vả lại, chúng ta còn có thể nghiên cứu những ảnh hưởng của tư tưởng trên các thể mới, để suy luận cho tương hợp với khái niệm liên quan về nguồn gốc tư tưởng khi Bản ngã tiếp xúc lần đầu tiên với Vô ngã Vũ trụ. Sự quan sát này giúp chúng ta căn cứ theo lý đương nhiên “Thiên Ðịa tương đồng”. Vạn vật trên cõi trần đều là phản ảnh và khi nghiên cứu những phản ảnh, chúng ta có thể hiểu biết được các nguyên nhân tạo thành vạn vật.
Quan sát kỹ một đứa trẻ, ta thấy rằng cảm giác có trước trí khôn tức là những nỗi cảm kích vui và khổ, nhưng đầu tiên là khổ, nghĩa là những cảm giác mơ hồ có trước sự nhận biết xác thực. Trong lúc thai nhi còn nằm trong bụng mẹ, sự sống bào thai nhờ sinh lực người mẹ truyền sang, nhưng vừa lọt lòng mẹ, hài nhi không thể nhờ sinh lực của người mẹ nữa. Sự sống của hài nhi lìa sinh lực người mẹ chưa được thay thế liền. Tuy nhiên, khi thiếu sinh lực, tự nhiên nó thấy cần thiết và khi cảm thấy cần là thấy khổ. Khi nhu cầu của đứa trẻ được thỏa mãn, thì nó vui vẻ và trở lại trạng thái vô ý thức. Lần lần sự nghe thấy gợi cảm giác đứa trẻ, song vẫn chưa có dấu gì là hiểu biết. Trẻ thơ bắt đầu mở trí khôn hiểu biết là khi nó thấy và nghe được tiếng nói của người mẹ hoặc nhũ mẫu có liên quan đến sự ân cần cho nó bú đầy đủ khi nó khát sữa. Nhờ vậy, mới có sự liên lạc trong trí nhớ hoặc do trí nhớ của ít nhiều cảm giác phát khởi cùng chung một cảnh vật bên ngoài, ngoại cảnh này khác hẳn cảm giác, nhưng được xem như nguyên nhân phát khởi cảm giác. Tư tưởng là sự nhận thức mối liên quan giữa nhiều cảm giác và là cái một, cái duy nhất nối chúng với nhau. Ðó là sự biểu lộ đầu tiên của trí khôn và cũng là tư tưởng trước nhất –  từ chuyên môn gọi là “tri giác”. Trong đoạn trên, chúng tôi đã có nói: cốt yếu của tri giác là thiết lập mối liên kết giữa Jiva ( đơn nhất của tâm thức) với đối tượng. Bởi vậy, nơi nào có mối liên kết là có tư tưởng, tức là có sự hiểu biết.
Ðiều này dễ kiểm soát và có thể dùng làm thí dụ tổng quát để chứng minh nguồn gốc tư tưởng trong một Bản ngã riêng biệt, gọi là Biệt ngã. Ðó là bộ ba Bản ngã bị một lớp vật chất rất tinh vi bao bọc trong một Bản ngã (cá thể), khác hẳn với Chơn ngã. Trong Biệt ngã này, cảm giác có trước tư tưởng. Sự chủ ý của Bản ngã được khêu gợi khi có một ấn tượng kích thích và nó đáp ứng bằng một cảm giác. Một đứa bé thấy thiếu sinh lực như khát sữa, có cảm giác phải khóc để đòi hỏi chớ không biết suy nghĩ, nhưng khi được no nê thì nó nín khóc. Và cứ như thế mãi cho tới khi đứa trẻ bắt đầu tập tễnh tiếp xúc với ngoại cảnh một cách lờ mờ, rồi lần lần do cảm xúc bên ngoài, đứa trẻ có xu hướng theo ngoại cảnh. Nhờ dinh dưỡng đầy đủ đứa trẻ khỏe mạnh và chóng lớn, nó bắt đầu suy nghĩ đến cảnh tượng làm cho nó có cảm giác –  mặc dù rất yếu ớt. Sự sửa đổi không ngừng trong thể trí của đứa trẻ kích thích Bản ngã nó tiến lần đến trình độ hiểu biết để có thể rung động đồng nhịp. Ðứa trẻ cảm biết cần phải bồng ẵm và thích được vuốt ve mơn trớn. Khi thấy có người tới gần nó, mắt và miệng của nó cảm giác lẫn lộn một lượt. Nó có ba đặc tính cố hữu liên kết với nhau: nhu cầu, tiếp xúc và thỏa mãn. Sự liên kết này tạo thành ý tưởng. Nếu Bản ngã không cảm ứng động tác nào cả thì không có tư tưởng vì chính Bản ngã nhận thức chớ không ai khác.
Tri giác này làm cho đứa trẻ biết ham muốn, có ý thức hơn, sự đòi hỏi trước kia do bản năng thúc đẩy không ý định, bây giờ trở thành sự ham muốn hướng về một việc gì có chủ định –  như muốn uống sữa. Tuy nhiên, sự nhận thức ấy cần phải sửa đổi, vì Bản ngã hiểu biết liên kết ba đặc tính nhưng đã đến lúc một trong ba đặc tính ấy là nhu cầu phải được tách riêng ra. Ðiều này rất có ý nghĩa là khi đứa bé thấy người nào cho nó bú thì nó biết đòi. Ðó là nó tiến đến giai đoạn đầu, vì Bản ngã hiểu biết khêu gợi cho nó nhận được hình ảnh người đến gần nó. Dù đứa bé không khát sữa nhưng khi trông thấy mẹ nó, thì nó khóc lên để đòi vú mẹ, về sau, trẻ lớn khôn thì không còn khóc để đòi vú nữa, trái lại, nó thích gần gũi và trìu mến mẹ nó nhiều hơn. Sự trìu mến của trẻ con đối với người mẹ trở thành một kích động mới cho tư tưởng.

(còn nữa...)

www.xaydung360.vn XÂY TÂM, DỰNG TẦM CHUYÊN NGHIỆP

9#
sungtich Đăng lúc 16/6/2012 00:11 | Chỉ xem của tác giả
không hiểu được nhiều nhưng cảm nhận được mở mang trí não,cảm ơn anh....thêm nữa nhé.

www.xaydung360.vn XÂY TÂM, DỰNG TẦM CHUYÊN NGHIỆP

10#
 Tác giả| fubi Đăng lúc 16/6/2012 13:17 | Chỉ xem của tác giả

MỐI LIÊN QUAN GIỮA CẢM GIÁC VÀ TƯ TƯỞNG
Nhiều sách tâm lý học Ðông và Tây phương xác nhận rằng tất cả tư tưởng đều căn cứ nơi cảm giác, một số lớn các cảm giác được súc tích nhưng không tạo được tư tưởng.
Bà H. P. Blavatsky viết: “Như chúng ta đã biết tư tưởng có thể phân tích bằng những trạng thái của tâm thức thay đổi tùy theo thời gian tính, cường độ, sự phức tạp, v.v... nhưng chung qui tất cả đều căn cứ trên cảm giác”[12]. Vài tâm lý gia đi xa hơn, cho rằng chẳng những cảm giác là nguyên liệu dùng kiến tạo tư tưởng mà còn tạo nên tư tưởng nữa, như vậy có nghĩa không chấp nhận có Người suy tưởng và cũng phủ nhận Bản ngã hiểu biết. Phái đối lập cực đoan thì xem tư tưởng như kết quả do ý niệm của bản thân phát khởi từ nội tâm, chớ không do ngoại cảnh, còn cảm giác là nguyên liệu để Bản ngã sử dụng theo đặc tính tự nhiên, chớ Bản ngã không do hành động theo điều kiện nào cả.
Một đàng cho rằng tư tưởng do cảm giác phát sinh, đàng khác bảo rằng tư tưởng do Bản ngã sáng tạo. Theo kiến giải của hai đàng thì đàng nào cũng chỉ chứa đựng một phần chân lý, còn đúng chân lý, lại ở giữa hai quan điểm đó. Cần phải khêu gợi Bản ngã để cảm giác nương theo đó mà hành động ở ngoại cảnh, và nếu tư tưởng đầu tiên phát khởi là do hậu quả của cảm giác thúc đẩy thì cần phải có cảm giác từ trước, nhưng nếu Bản ngã không có khả năng cố hữu liên kết sự vật lại với nhau và nếu Bản ngã không có tính hiểu biết phân biệt, dù cảm giác luôn luôn trụ vào Bản ngã, thì cũng không phát sinh một tư tưởng nào cả. Vậy khi nói tư tưởng phát nguồn từ cảm giác thì chỉ đúng phân nửa chân lý. Thật ra phải tạo cho cảm giác một cơ cấu vững chắc và thiết lập mối liên quan giữa cảm giác với cảm giác, giữa cảm giác với Bản ngã, và liên kết chặt chẽ giữa cảm giác và Bản ngã với ngoại cảnh. Cũng như Người tưởng nghĩ là cha, cảm giác là mẹ, còn tư tưởng là con vậy.
Nếu tư tưởng phát nguồn từ cảm giác, mà sở dĩ những cảm giác ấy phát sinh là do sự tiếp xúc với ngoại cảnh và điều tối quan trọng là khi cảm giác phát khởi, các đặc tính và sự bành trướng của cảm giác phải được xem xét cho xác đáng. Phận sự đầu tiên của Người hiểu biết là quan sát, nếu không có gì để quan sát thì nó luôn luôn bất động, nhưng khi đối tượng phát hiện, Bản ngã tiếp xúc đối tượng với tư cách Người hiểu biết thì nó chủ ý xem xét phân biệt. Sở dĩ có sự quan sát đúng là do tư tưởng của Bản ngã hiểu biết tập trung một số lớn quan sát tương tự ấy lại. Nếu Bản ngã hiểu biết quan sát không đúng, và nếu có sự sai lầm giữa chủ thể hiểu biết và đối tượng để hiểu biết thì sau này những hành động sai lầm ấy sẽ sinh ra không biết bao nhiêu sự sai lầm khác nữa, vô phương sửa đổi, trừ phi bắt đầu làm lại tất cả.
Giờ đây, chúng ta hãy xem xét cái then chốt của cảm giác và tri giác trong một trường hợp đặc biệt. Giả sử bàn tay ta va chạm nhẹ vào vật gì, ta có cảm giác bị đụng chạm. Sự nhận biết sự vật bằng xúc giác đã tạo ra cảm giác một ý tưởng. Khi ta cảm thấy bị đụng nhẹ, là ta chỉ cảm giác suông mà thôi. Nhưng nếu khi ta thấy đối tượng mà sinh ra tình cảm, thì tri giác là một tư tưởng. Còn về phần Người hiểu biết, nơi đây tri giác có nghĩa là ta nhìn nhận hiện đang có một mối liên quan giữa ta với đối tượng, và đối tượng tạo cho ta một cảm giác. Tuy nhiên, không phải tất cả sự kiện này xảy ra đều như thế cả. Bởi lẽ, ngoài ra ta còn nhận thấy nhiều cảm giác về màu sắc, hình dáng, êm dịu, ấm áp, kết cấu. Những cảm giác đó, ta nhận thấy với tư cách Người hiểu biết, do sự trợ giúp của các kỷ niệm và ấn tượng mà ta đã ghi nhận từ trước –  nghĩa là ta so sánh sự vật cũ với sự vật mới mà ta cảm xúc –  thì ta mới phân định được tính chất của đối tượng.
Việc hiểu biết sự vật này đem lại cho ta một tình cảm đã chứa sẵn mầm mống tư tưởng. Theo ngôn ngữ siêu hình: Khi nhận thức được Vô ngã như là nguyên nhân của vài cảm giác trong Bản ngã, thì ta bắt đầu hiểu biết. Cảm giác một mình là cảm giác suông, điều này thường xảy ra, không đủ sức làm cho ta nhận thức được Vô ngã, mà chỉ khêu gợi sự vui buồn trong Bản ngã, là sự nở rộng hay co thắt lại trong tâm hồn.
Nếu người nào chỉ biết cảm giác suông thì không tiến hóa cao được. Khi chúng ta thấy đối tượng mà sinh tình cảm, đó là ta hiểu biết được đối tượng mang lại cho ta sự vui hay sự buồn, là ta bắt đầu mở trí khôn. Mối liên kết chặt chẽ có ý thức giữa Bản ngã và Vô ngã là nền tảng cho mọi tiến hóa sau này, và một phần lớn sự tiến hóa ấy làm cho mối liên kết của Người hiểu biết ngày càng trở nên rõ ràng và chắc chắn thêm. Khi tâm thức vọng động, Người hiểu biết liền tiếp xúc với ngoại cảnh thấy đối tượng sinh ra tình cảm vui hay khổ, rồi ngoảnh lại thế gian mà nói: “Ðối tượng ấy làm tôi vui, đối tượng ấy làm tôi khổ.”
Cần phải có nhiều kinh nghiệm về cảm giác trước, rồi sau này Bản ngã mới đáp ứng lại với ngoại cảnh. Do lòng ước ao muốn hưởng lạc thú lập lại làm Bản ngã phải lần dò trong tối tăm để tìm cho được thú vui. Và đấy là một thí dụ rất hay về sự kiện đã kể trên để chứng minh không có sự việc nào gọi là cảm giác thuần túy hay tư  tưởng thuần túy, bởi vì “sự mong mỏi thú vui được tái diễn” hàm súc ý nghĩa rằng hình ảnh lạc thú vẫn luôn luôn còn tiêm nhiễm trong tâm thức, dù cho hình ảnh ấy có yếu ớt chăng nữa, thì đó cũng là công việc của ý niệm thuộc phạm vi tư tưởng. Phải mất một thời gian lâu, Bản ngã mới tỉnh thức được phân nửa song còn buông trôi từ sự vật này đến sự vật khác, rồi ngẩu nhiên va chạm nhằm Vô ngã chớ không do tâm thức hướng dẫn, Bản ngã cảm biết vui khổ, nhưng không rõ tại sao vui và tại sao khổ. Sau khi trải qua một thời gian lâu trong tình trạng như vậy, Bản ngã mới nhận thức được sự vui khổ và từ đây bắt đầu thiết lập mối liên kết giữa Người hiểu biết và Vật được biết.
(còn nữa..)

www.xaydung360.vn XÂY TÂM, DỰNG TẦM CHUYÊN NGHIỆP

11#
 Tác giả| fubi Đăng lúc 16/6/2012 13:17 | Chỉ xem của tác giả
fubi gửi lúc 16/6/2012 13:17
MỐI LIÊN QUAN GIỮA CẢM GIÁC VÀ TƯ TƯỞNG Nhiều sách tâm lý học Ðông v ...

CHƯƠNG  NĂM
KÝ  ỨC
BẢN TÍNH CỦA TRÍ NHỚ
Khi chúng ta được vui thích với đối tượng nào thì tâm lại khởi ý niệm muốn gặp lại đối tượng đó nữa để vui thêm. Hoặc có đối tượng nào làm chúng ta đau khổ mà muốn xa lìa đối tượng ấy thì thể trí cũng tái tạo những hình ảnh đối tượng đó trở lại chúng ta nữa. Vì theo định luật chung, năng lực di chuyển theo chiều hướng ít trở ngại để vật chất thể trí tiện việc chọn lựa theo sở thích với hình thức thường dùng, chờ khi năng lực mới này hoạt động, thì nó tạo lại những sự rung động đã phát khởi từ trước. Khuynh hướng này do Tamas [13] (tịnh chất) là mầm mống của trí nhớ và cũng là chủng tử của Ký ức. Các phân tử vật chất của thể trí kết tụ, rồi phân tán lần lần khi gặp năng lực khác xung kích, tuy nhiên chúng vẫn giữ được khuynh hướng kết tụ với nhau trong một thời gian lâu. Nhưng nếu các phân tử ấy gặp sự kích động giống như lần trước, chúng liền trở về vị trí cũ. Hơn nữa, khi Người hiểu biết rung động theo đường lối riêng biệt thì năng lực rung động ấy vẫn tồn tại trong Người hiểu biết chớ không mất, và sự ham muốn được gần gũi với cảnh vui, xa lánh cảnh buồn được Người hiểu biết phóng năng lực rung động ra ngoại cảnh để kích động sự vui buồn theo nhu cầu của thể trí.
Người hiểu biết thâu nhận và phát xuất được hình ảnh là do hai nguyên nhân:
1- Sự vui thích hấp dẫn tái tạo nên hình ảnh vui thích.
2- Sự đau khổ vì ganh tị cũng tạo ra hình ảnh đau khổ.
Do kinh nghiệm, sự vui và sự buồn hổn hợp lại thành một loạt rung động tạo nên hình ảnh đối tượng, rồi sự vui thích hay đau buồn đồng tái hiện lại, làm ta cảm giác được sự vui hay buồn ấy thêm một lần nữa, nhưng lần sau này không có đối tượng trước mắt. Vì đó chỉ là trí nhớ dưới hình thức đơn giản nhất, là sự rung động sẵn có tự nhiên và đồng bản chất với sự rung động đã gây nên nỗi vui hay buồn, hầu khêu gợi mối thiện cảm hay ác cảm. Ðối với Người hiểu biết, hình ảnh ấy lu mờ, ít rõ ràng, ít sống động hơn những hình ảnh đã tiếp xúc thẳng với ngoại cảnh. Tuy nhiên, sự rung động nặng nề của vật chất giúp nhiều năng lực cho những hình ảnh của ý tưởng và dục vọng, thật ra các rung động đều giống hệt nhau và ký ức chỉ là sự tái tạo trong vật chất trí tuệ những đối tượng do Người hiểu biết trước kia đã cảm nhiễm. Hình ảnh này có thể và đang được tái diễn nhiều lần trong vật chất rất tinh vi, ngoài sự nhận thức của Người hiểu biết riêng biệt, tất cả những hình ảnh tái tạo ấy đều gom lại và làm ra một thành phần nhỏ mọn của ký ức Ðức Thượng Ðế, Chủ tể Vũ trụ. Bất cứ Người hiểu biết nào cũng có thể thâu tiếp các hình ảnh của những hình ảnh ấy miễn là Người hiểu biết có đủ “năng lực rung động” như được kể ở trên. Cũng giống đài phát thanh truyền tin tức trên băng tần 1000 chu kỳ, thì các máy thu thanh còn tốt, bắt đúng tần số đó đều nghe được tin tức của đài. Như thế, năng lực rung động tiềm tàng trong Người hiểu biết có thể hoạt động do một sự rung động tương tự trong những hình ảnh vũ trụ. Hình ảnh ấy được tái tạo đầy đủ chi tiết về hình tướng và âm thanh trong cảnh Akasha [14] tức là cõi Thái hư mà giới Thông Thiên Học thường gọi là Thái hư ký ảnh hay là Tiên thiên ký ảnh, nghĩa là hình ảnh ghi trên không gian.
KÉM  TRÍ  NHỚ
Nếu muốn hiểu tại sao chúng ta “kém trí nhớ”, chúng ta phải xét qua những quá trình của trí não, vì rất cần thiết cho sự phát sinh trí nhớ. Nhiều sách tâm lý học cho rằng ký ức như là quan năng đặc biệt của trí não. Thật ra sự nhớ dai một hình ảnh trong trí óc không do quan năng đặc biệt nào cả, mà do phẩm chất chung của cái trí. Hễ trí nhu nhược thì mau quên –  tỉ như một chất lỏng đổ vào khuôn nào thì nó theo hình thức của khuôn ấy, nhưng khi tách rời khỏi khuôn, chất lỏng không còn ở y như hình thức của khuôn ấy nữa –  thể trí nào kém tổ chức thì hợp chất của phân tử ở thể trí rời rạc và tản mác như một vầng mây thưa thớt, như thế trí nhớ sẽ rất kém cỏi. Tuy nhiên, kém trí nhớ là sự thông thường của người đời, không đáng phiền ngại, vì chúng ta hiện nay đang sống trong giai đoạn chưa tiến hóa cao, thì ai nấy cũng đều kém trí nhớ cả.
Khi những năng lực của Jiva hoạt động trong thể trí và có tổ chức trật tự, chúng ta cũng còn thấy cái mà chúng ta gọi là “kém trí nhớ”, nhưng nếu xét kỹ, chúng ta thấy rằng không phải phương diện nào chúng ta cũng đều kém trí nhớ cả. Dĩ nhiên, có vài việc dù ta không mấy để ý, nhưng cũng có thể nhớ được rõ ràng và chắc chắn nữa. Nếu chịu khó xét lại các sự kiện ấy, ta thấy rằng những việc mà ta nhớ dai thảy đều kích động tâm trí của ta nhiều nhất. Tóm lại, phàm những gì làm chúng ta ưa thích hoặc đau khổ thái quá thì càng làm cho chúng ta nhớ dai.
Tôi biết một bà thường phàn nàn về tánh mau quên của bà trong việc học hành. Tuy nhiên, tôi nhận thấy có nhiều việc bà ta nhớ rất giỏi, như nhớ từ chi tiết một bộ y phục mà bà ta thường trầm trồ. Nhận xét chung, trí nhớ của bà không có gì là kém cỏi, khi bà chủ ý quan sát một điều gì kỹ lưỡng thì trong trí bà phát hiện ra hình ảnh rõ ràng và hình ảnh ấy giữ được một thời gian khá lâu rồi mới tan. Việc này là một bí quyết giúp ích chúng ta hiểu biết về việc “kém trí nhớ”.
Người kém trí nhớ là tại vì họ thiếu chủ ý và quan sát kỹ, người như vậy về sau hay có những tư tưởng lộn xộn. Tư tưởng lộn xộn đó là ấn tượng không rõ rệt do sự quan sát thiếu cẩn thận, chú ý. Trái lại, những tư tưởng minh bạch là những ấn tượng sắc bén do một chủ tâm quan sát cẩn thận và chính xác. Lại nữa, những gì mà ta thích thú và chủ ý nhiều thì thường hay nhớ dai.
Làm cách nào để sửa chữa được việc “kém trí nhớ”?
Trước hết, chúng ta phải ghi những việc gì mau quên và những việc gì hay nhớ để tiện việc phân tách khả năng chung, rồi nghiên cứu tỉ mỉ những điều chúng ta chóng quên, xem xét lại các việc ấy thử coi có đáng nhớ hay không. Nếu thấy chẳng ích lợi bao nhiêu, nhưng lắm khi chúng ta thấy cần chăm lo thì phải tự nhủ: “Tôi muốn chủ ý đến việc này, tôi muốn xem xét việc này cho rành mạch, tôi muốn nghĩ đến việc này một cách chu đáo”. Làm như thế chúng ta cảm thấy trí nhớ của chúng ta ngày càng mở mang thêm. Như đã giải rõ nơi đoạn trước, trí nhớ tùy thuộc sự chú ý cẩn thận, quan sát chín chắn và suy nghĩ kỹ càng. Muốn chú ý cần phải có sự hấp dẫn, nếu thiếu sự hấp dẫn thì phải có ý chí để thay thế yếu tố quan trọng ấy.
Ðây chính là khởi điểm gây nên sự trở ngại mà chúng ta thường thấy. Làm cách nào để ý chí có thể thay thế sự hấp dẫn ? Cái gì làm phát động ý chí ? Hấp dẫn khêu gợi ham muốn, sự ham muốn thúc đẩy con người chạy theo đối tượng hấp dẫn. Nhưng giả sử trong trường hợp không có sự ham muốn thì làm sao ý chí có thể thay thế ham muốn được ? Ý chí là sức mạnh thúc đẩy sự hành động theo đường lối do Lý trí xét đoán kỹ càng và chỉ định chớ không do sự hấp dẫn ở ngoại cảnh. Hành động bị thúc đẩy do sự quyến rủ ở ngoại cảnh –  thường gọi là Bản ngã phát huy năng lực –  đó là dục vọng (ham muốn), còn hành động do Lý trí Thuần túy hướng dẫn, gọi là ý chí.
Khi nào ngoại cảnh không còn sức quyến rủ nữa thì nội tâm thông suốt. Sự tham cứu sâu rộng của trí thức là nguyên nhân làm cho ý chí được thành tựu, và nhờ sự luyện tập phán đoán là mục tiêu của mọi nỗ lực để đi đến tận thiện. Ðó là điều mà Lý trí chọn làm phương tiện đưa Bản ngã đến chỗ tuyệt mỹ ngõ hầu tạo thành nguyên nhân cho ý chí. Một khi đã quyết định thực hành, sau này dù chúng ta có mỏi mệt hay đau ốm, sự huấn luyện tư tưởng ấy không quên nhắc nhở ta cần phải thận trọng và khích lệ thêm ý chí. Nếu việc gì cũng đắn đo, cân nhắc cẩn thận, thì mọi việc đều trở nên hấp dẫn, nghĩa là khi chúng ta tạo trong trí một hình ảnh có đức tính cao quí và vui tươi để áp dụng vào công việc hữu ích, thì hình ảnh ấy trở nên hấp dẫn. Theo thế thường, người nào ham muốn một vật gì đều ước mong có đủ phương thế để đạt được vật ấy đặng làm của riêng, tuy nhiên nhờ sự cố gắng giữ đúng kỷ luật khắc khe trong sự rèn luyện ý chí, chúng ta có thể thắng được tính ích kỷ này.
Có vài mục đích cao cả đáng cho chúng ta ham muốm để được dẫn dắt đến hạnh phúc viên mãn, vì vậy chúng ta cần phải tận dụng ý chí hoạt động mạnh mẽ hầu đi đến cứu cánh. Việc gì cũng vậy, nhất là trong việc trau giồi năng lực quan sát, sự luyện tập thường xuyên, mỗi ngày một ít, có hiệu quả hơn là cố gắng thật nhiều trong một lúc rồi gián đoạn. Mỗi ngày chúng ta bắt buộc phải tập quan sát tỉ mỉ một vật gì thông thường, tưởng tượng trong trí hình dáng vật đó cho đầy đủ chi tiết, rán sức chủ ý và giữ hình ảnh ấy trong trí một thời gian ngắn như chính mắt ta đã trông thấy. Qua ngày sau, chúng ta cố gắng nhớ lại, tái tạo trong trí hình ảnh vật đó cho thật đúng, đúng nhiều càng tốt, rồi so sánh, xem xét, bổ túc những thiếu sót và sửa chữa chỗ sai lầm.
Nếu mỗi ngày chúng ta dành năm phút để luyện tập quan sát, lần lượt mỗi lần xem xét tỉ mỉ một vật, hình dung vật ấy trong trí, qua ngày sau rán sức nhớ lại hình ảnh vật ấy rồi so sánh với vật trước, nhờ vậy trí óc của chúng ta chóng phát triển và những năng lực quan sát, chủ ý, suy tưởng, định trí cũng tiến triển khả quan. Thật ra chúng ta rèn luyện thể trí để tiến mau lẹ, hầu có đủ tư cách xứng đáng làm tròn nhiệm vụ giúp đời hữu hiệu, hơn là để thể trí phát triển chậm chạp theo định luật tự nhiên.
Không một người nào luyện tập theo phương pháp trên đây mà không thâu thập được kết quả. Hành giả sẽ được hài lòng khi nhận thấy năng lực trí thức của mình ngày càng gia tăng và sự kiểm soát ý chí cũng dễ dàng hơn.
Có nhiều phương pháp nhân tạo tập mở trí bằng cách trình bày sự vật có sắc thái hấp dẫn qua các giác quan, hoặc tom góp các sự vật lại làm thành một hình thức đặng ghi nhớ. Nếu người có năng khiếu về mắt (tức là có trông thấy mới dễ nhớ), nên dùng hình ảnh hoặc viết hay vẽ vời trên bảng những hình thức muốn nhớ, để mắt trông thấy mới nhớ được. Người khác, thính giác trội hơn, thì những âm thanh dễ ghi vào trí não, như khi nghe lọt vào tai một bài học hay những vần thơ, hoặc một bản nhạc du dương thì nhớ rất lẹ. Những người này học bài thường hay đọc to tiếng để cho tai nghe thì mới mau thuộc. Tuy nhiên, phương pháp hay nhất và hợp lý nhất dùng cách rèn luyện thể trí cho có căn bản vững chắc là phương pháp mà chúng tôi đã trình bày nơi đoạn trên.
(còn nữa..)

Đánh giá

Hix! Anh Fubi tham gia quả tâm linh cao siêu thế! Không biết quả này em có lĩnh hội để làm theo được không? Thanks!  Đăng lúc 16/6/2012 14:54

www.xaydung360.vn XÂY TÂM, DỰNG TẦM CHUYÊN NGHIỆP

Phiên bản Mobile|Phần mềm ôn thi sát hạch chứng chỉ hành nghề xây dựng  

Phần mềm dự toán xây dựng excel | Hướng dẫn lập dự toán xây dựng | Phần mềm tư vấn giám sát | Phần mềm quản lý chất lượng xây dựng |

Phần mềm ôn thi sát hạch chứng chỉ hành nghề xây dựng

Phần mềm ôn thi sát hạch chứng chỉ hành nghề Kiến Trúc sư

Phần mềm ôn thi sát hạch chứng chỉ hành nghề Đấu thầu

GMT+7, 18/10/2026 15:49 , Processed in 0.146234 second(s), 24 queries .

Powered by Discuz! X3.2

© 2001-2013 Kiso Comsenz Inc.